Những dự định

 

Vậy là đã sang năm 2017. Trái Đất vừa hoàn thành một chu trình quanh Mặt Trời và giờ là lúc để nó bắt đầu một vòng quay mới. Cuộc sống năm nay của tôi bỗng trở nên tự do hơn và điều đó trở thành một vấn đề lớn. Tôi băn khoăn với việc mình nên ổn định hay tiếp tục hoang dã. Tôi mất đi một mục đích lớn trong đời, cảm thấy mọi chuyện dường như không còn suôn sẻ với mình nữa. Như một lẽ dĩ thường là tôi bắt đầu hoang mang. Xụi lơ trước thực tế rằng tôi không hề có kế hoạch gì cho giai đoạn này cả.

Sáng nay lôi xe đạp ra lau rửa. Cũng để nó bám bụi lâu rồi. Tôi nghĩ về những chuyến đi. Liệu còn nơi nào tôi muốn đến, điều gì tôi muốn thực hiện. Dường như không có. Việc đó tệ không nhỉ. Khi đánh mất bản thân vào một nơi nào đó không có lối ra. Quãng đường xe đạp cuối cùng của tôi trong năm cũ dài 324 ki-lô-mét. Nó bắt đầu từ thành phố Phan Thiết cho đến thành phố Vũng Tàu. Đó là những ngày buồn cười, khi lòng tôi nhẹ bẫng đến lạ kì. Những con đường nhỏ, những ngôi nhà nhỏ, sát biển, mang một vẻ bình dị ít đâu tôi thấy được. Ở những nơi vắng lặng, tôi thường gặp những người xa xứ. Là những người phụ nữ đã lớn tuổi. Họ bỏ quê ở Bắc từ lúc còn thiếu niên, vào đây, làm việc, kiếm lấy mảnh chồng, rồi cứ thế tiếp tục làm việc và sinh sống. Đến lúc có con, họ mở những quầy giải khát nhỏ, dựng bên trong những lán nhà bên đường, có nhiều bàn và ghế để phục vụ khách đường xa dừng xe nghỉ ngơi. Bọn họ ít về lại quê cũ, nơi ba mẹ họ vẫn còn sống, có người hơn 20 năm rồi chưa quay lại làng mình lấy một lần. Thân con gái, lấy chồng xa, dặm trường, rồi con nhỏ líu ríu, kinh tế không được mấy, cứ mỗi kì ghe đánh cá của chồng ra khơi là lại ngóng chờ ngày này qua ngày khác, tuần này đến tuần khác. Họ sống ở trong Nam nhưng lại luôn mang những niềm tâm sự mà người phụ nữ Bắc nào cũng có. Khi không có ai để sẻ chia, họ đành hòa mồ hôi và nhịp thở cùng những cơn gió biển.

Mẹ tôi vừa bảo cứ mỗi lần tôi mang xe ra rửa ráy các thứ là y rằng lại có chuyện. Chắc mẹ đã ám ảnh với những chuyến đi của tôi mất rồi. Kì thực, tôi chẳng có dự tính cho một đích đến nào trong năm nay cả. Trước mũi tôi còn có bao điều mơ hồ. Khi sự tự tin của tôi đặt lên các ngả đường ngày càng sụt giảm, ấy là lúc tôi lại cảm thấy thất vọng về bản thân. Đó là một sự thất vọng nửa vời, phải, tôi biết chứ, vì sự thất vọng đó không đòi hỏi tôi phải cố gắng nỗ lực gì cả. Đó là một sự thất vọng cho có.

Chắc chỉ là để chứng minh chưa chắc những gì tôi muốn là tôi hoàn toàn có thể thực hiện được. Có lẽ tôi nên ở lại Hà Nội và làm việc như một con người bình thường, trả hết số dư nợ từ năm trước, kiếm đủ miếng cơm, dư thừa thì tích lũy cho tuổi già. Có lẽ tôi nên đi chơi như năm ngoái, nhè đúng Tết thì rời khỏi nhà, rong ruổi trên những vùng đất xa xôi. Tôi vẫn đang định ghé Myanmar, đó là một mảnh ghép trong cuộc đời tôi vẫn thấy thiếu. Dù không dám quả quyết, nhưng tôi cần hít thở không khí ở nơi đó, bản năng mách bảo tôi vậy. Có lẽ tôi nên chuyển tới Đà Nẵng như tôi đã muốn từ năm ngoái, đó là một nơi tôi nghĩ mình có thể tiêu sầu. Vì chẳng có gì ở đó có thể khiến con người ta tiêu sầu được cả. Một nơi cô đơn và buồn thẳm, có sông, có nhiều cây cầu, có biển, có vịnh, có đèo, có núi; nhưng tất cả chỉ có vậy. Không có ai, không có người nào, có lẽ đó là cuộc sống dễ chịu nhất tôi có thể toan tính được. Có lẽ tôi nên vào Sài Gòn. Có lẽ không. Kể từ lúc biết đến Sài Gòn, tôi không nghĩ rằng đó là nơi tôi muốn đến và muốn sống lâu dài. Có lẽ tôi nên ở Vũng Tàu. Tôi có thể ngửi thấy mùi Hà Nội ở thành phố đó. Một cảm giác thân quen khiến tôi thích thú khi loanh quanh những con phố. Hoài niệm phảng phất, thị dân tứ xứ; người Pháp hẳn đã bỏ lại cái chất trầm mặc của đội quân Lê dương tại những nơi này. Những người lính, từ nước này, từ nước khác, chung màu da hay không chung màu da, họ chiến đấu chẳng vì lý tưởng gì cả, họ chiến đấu chỉ vì họ đang cầm cây súng với những lưỡi mác trên tay. Những suy nghĩ của họ, liệu là đơn giản, liệu là phức tạp, liệu là những gì, khi họ nghỉ ngơi dưới bầu trời Hà Nội hay bên biển Vũng Tàu. Tôi chẳng thế nào biết được, chuyện của mấy chục năm trước, chuyện của mỗi con người. Quá khứ luôn thú vị vì tôi không thể biết chính xác nó diễn ra ra sao. Cả tương lai cũng vậy. Dự định có lẽ vẫn chỉ là dự định. Tôi còn cả một năm phía trước để diễn giải những dấu hiệu của riêng mình. Phải không?

 

Advertisements

CẢM HỨNG VÔ CỰC DỌC (H.I.)

 

Sáng. Dậy. Có một khoảng im ắng. Rồi tâm trí chan chứa suy nghĩ. Toàn ý tứ không đâu, chúng chảy vội vào một cái hồ. Cái hồ rộng ra. Đoàn lữ khách càng lúc càng nhỏ tý lại. Dần thì bé tin hít đến nỗi trôi tụt qua đầu xỏ chỉ của một cây kim khâu cỡ số chín.

Những ngày mới vẫn cứ nối tiếp nhau xuất hiện, giống như con mắt cứ chớp nhắm chớp mở liên hoàn. Thời gian là thế, chưa bao giờ biết mệt mỏi, đều đặn chạy những vòng quay, răm rắp miệt mài suốt năm này tháng khác. Bên cửa sổ; ngoài kia, cả khối nắng ban mai vừa kịp tỉnh giấc, bắt đầu tưới ánh vàng kim dài lê thê lên từng cái nóc nhà một. Chảo trăng sáng lóe đêm qua, đâu, đã biến mất hẳn, chẳng còn lại lấy bất cứ dấu vết nào. Những con cú đã thôi ‘cờ-rúc, cờ-rúc’ từ khỉ khi không biết, hoàn toàn kỹ càng lẩn tịt mặt trong các lỗ đen vũ trụ được giấu kín sau bức màn mây và làn da trời căng phồng cơn giông tố rồi chắc sẽ sớm đến trong tuần; chỉ có mỗi đám cành lá mảnh mai đâm xiên vào khung cửa sổ là bỗng dưng rạng rỡ cõi lòng, khấp khởi xanh rì rung rinh đón gió sớm.

Những cơn gió thôi thì cũng chỉ tạt qua mấy chốc, sau, chúng đi khuất, tất cả lại trở về với yên lặng.

Tôi nhớ những con phố. Tôi nhớ những khuôn mặt. Tôi nhớ những dãy nhà mái bằng đầy dây phơi, đầy kẹp áo, nhớ những chậu cây tua tủa cỏ mai; nhớ những mốc meo và rêu đen cháy khét lét bám kín lấy dãy gạch trơ vữa được sắp sẵn thành bờ tường của một căn nhà cấp bốn nhỏ nhắn, hoang chát vị xưa. Bóng nắng bỗng lên quá đỗi, và tôi không thể ngờ rằng cái sự đói nó có thể réo rắt tâm hồn con người lạ lùng là thế. Tôi đâu biết những đứa trẻ lang thang chúng sẽ thế nào; khi không có gì để bỏ bụng, chúng ứa ra hàng dài nước miếng ngay từ ngoài này, ngay lúc trông vô cửa tiệm người ta đang bán những đụn xôi nóng hổi, thơm ngào ngạt mùi mỡ lợn xối chảy dài như mật, và mùi vò đỗ xanh xay mịn, nắm chim, thái lát mỏng y chang mấy tờ vé số. Nhưng, thì, chúng chỉ im thít đó đứng coi thôi; một lúc; chúng nuốt tất cả mọi thèm muốn đầy đặn khổ sở vào trong cái bình chứa ọt ẹt chúng ôm chặt dưới lớp áo phông bẩn, phần nhiều rìa áo đã bị bung chỉ hoặc tơ sợi. Một lúc. Chúng như lay lắt với những chiếc rổ nhựa xếp đầy đủ mọi chủng loại sing-gum thơm miệng, mấy bao thuốc lá và những chiếc bật lửa bên góc đường; một lúc, có đứa lại thẩn thơ chơi đùa với bầy chim sâu chốc chốc lại sà từ hàng cây nào đó xuống dưới đất mổ những mẩu vụn rơi lại từ những chiếc bánh mì chẳng hề có tý thịt nào mà tất cả lũ chúng nó đang ăn. Bọn trẻ đẹp trai, da không rám nắng, chỉ bị đen vì mồ hôi, vì bụi đất và vì cái sự nước non tắm táp. Nhưng thật sự thì trông chúng tội nghiệp, khi chúng khiến cho người ta cứ phải luôn nghĩ rằng góc đường nhỏ bé ấy sẽ là ngôi nhà đời đời vận kiếp của chúng. Tôi đưa cho chúng nửa chai nước La Vie, thứ duy nhất chúng thôi từ chối, để chúng uống trôi đống bột mì; một lúc. Khi tôi rời đi thì đám trẻ cũng đã bắt đầu chuyển sang trò chơi với bộ bài giắt từ đít quần một đứa. Tôi nhìn bọn chúng nó đứa nào đứa nấy nấc cụt, bỗng chốc sướng rên trọ trẹ hoài những từ ngữ lấp lánh niềm vui chẳng tài nào tôi hiểu nổi; một lúc; lần cuối. Tôi nhớ trời xanh. Tôi nhớ biển. Tôi bỏ quên đi những cặp mắt trẻ thơ,  bỏ quên đi những nụ cười con nít.

Tôi nhớ Clo-jie tha thiết và bồn chồn, xen lẫn thói đểu giả thường thấy, khi con người ta tự nhiên nhắc nhiều về nỗi nhớ. Tôi chạy đua với Mặt Trời tới tận bờ bên kia của tinh cầu Mặt Đất. Chú Trời ta thắng; với vẻ tươi rói, chú cười đắc chí nhảy ùm xuống biển vũ trụ xả hơi hồi sức, không lãng phí lấy bất cứ một giây phút nào bùi ngùi cho tôi cả; chú ta thực tình thỏa mãn. Tôi thua và cảm giác cay đắng; nó thật tồi tệ; nỗi thất vọng lộ rõ như kiểu ra sức bóp lấy bóp để cánh hoa cúc bằng ngón cái của bàn tay phải và ngón trỏ của bàn tay trái cho kỳ được mà lại chẳng được; là rất tồi tệ, thế, tôi đi nhảy; cũng đi nhảy, nhưng là nhảy xuống vực sâu. Tôi rơi thân xác xuống một thung lũng đầy những hạt vàng và chính nhờ có chúng mà tôi chẳng chết. Bọn hạt vàng lửng lơ, lơ lửng, lưng chừng vuốt ve bắp chân tôi mỗi bước tôi đi, và cả cổ tay tôi khi tôi cố mấy lần cúi xuống thử tóm lấy một đám, nhưng vì chúng biết cách luồn trốn qua khe kẽ ngón tay rất nhanh, nên thành thử tôi toàn tóm hụt. Chúng, chao ôi thì, có mùi căn bếp cũ của bà ngoại tôi nơi xóm Dầu, rất đậm; tôi không hiểu sao; là mùi của chiếc kiềng ba chân khi bị đám củi khô ngắc sùi bọt lửa hun cháy. Tôi thường đứng đó coi bà ngoại tôi nấu ăn cho bữa trưa, chỉ khi nào tôi sớm thua sạch đống bi ve của mình vào ban sáng và trên nhà chẳng có ai chơi, thì tôi lại chạy xuống bếp coi bà tất bật nấu nướng và để hửi mùi cả đống thức ăn thơm phức mùi hành; đủ loại. Tôi đứng bên chiếc rương gạo đặt trên nóc một cái bể vôi ở góc bếp mà ngóng nhìn các thanh củi từ to đến nhỏ biến mất hút vào trong lòng chiếc kiềng sắt, chỉ còn lại bụi tàn lép bép bay ra, và cảm xúc tựa hồ vô cùng thích thú. Rồi cả những mũi lửa ấm nóng và đôi chút điên rồ nữa chứ, chúng cào cấu những cái đáy nồi đen đặc, thỉnh thoảng bùng lên, đâm xiên lên thành nồi, khiến bồ hóng chảy ngược từ đít nồi lên tận nắp. Cứ thế, chúng biến ra một thứ sống động nhiệt thành, một ngọn nguồn mà từ đó lan tỏa biết bao mùi hương; mùi củi mục, mùi mùn cưa, mùi gỗ bào, mùi của những miếng thịt dày bì sôi trong mỡ, mùi của chiếc nồi gang, mùi của bàn tay bà, mùi đũa cả, mùi tường vỡ và mùi chiếc kiềng sắt; những thứ mùi nồng nàn của căn bếp cứ thế quện đi quện lại với nhau thành một vết dài trong dòng ký ức.

Bọn hạt vàng, chúng, kìa, cũng đang nhảy nhót như những ngọn lửa đỏ trong căn bếp cũ nay đã không còn. Hỡi ôi, chúng dường như bị phấn khích bởi hình dạng hai cái đầu gối của tôi hay sao ấy mà liên tục nhảy lên hòng va, chạm, húc, tông, rờ, bắt được vào hai đứa nó. Chúng nhảy lên từ lưng chừng không khí, mà không cần lấy một điểm tựa; như thể có một chiếc đệm hơi trong suốt hoặc vô hình cứ sóng sánh dập dềnh đưa đẩy chúng bắn lên từ bên dưới bằng thứ lực đàn hồi vô cùng dễ chịu; thật buồn cười. Sự phấn khích đó như một thứ tín hiệu mời gọi nhanh chóng lan tỏa ra khắp xung quanh. Bọn hạt vàng ở phía xa bắt đầu nô nức kéo tới. Chúng nhảy, tạo thành những cơn sóng nhẹ. Mỗi đợt, mỗi đám hạt vàng như thế tạo nên một lớp sóng, lớp này đuổi theo sau, chồm lên lớp khác; bọn hạt vàng này thuận theo đà nhảy lên trên bọn hạt vàng khác; những con sóng bé tý ban đầu gợi lăn tăn như mặt nước những đêm trăng tỏ dần biến thành những con sóng vừa vừa, rồi chúng trở nên lớn hơn nhiều khi đến được gần chỗ tôi đứng. Tôi, lúc ấy thì, như một hòn đảo hoang trơ trọi giữa biển trời mà tám phương bốn hướng đều có những đợt sóng là bọn hạt vàng ào ào xô tới. Bọn hạt đến sau lũ lượt chen lên bọn đến trước, đẩy hằng hà sa số bọn đến trước nữa xuống phía dưới, càng lúc càng sát hơn với mặt đất. Chính lúc ấy, tôi bắt đầu nghe thấy những tiếng lụp bụp nhỏ, kèm theo sau đó là những sợi ánh sáng leo lắt chui lên từ phía dưới lòng đất, xuyên qua những lớp hạt vàng bên trên và chui tọt vào vũ trụ. Rồi những tiếng lụp bụp trở nên rõ ràng hơn, chúng không chỉ đến từ dưới mặt đất mà còn xuất hiện ở trên không, ngay giữa những con sóng; không phải, chính xác là ở giữa những chỗ mà hai con sóng hạt vàng đến từ hai ngả va mạnh sườn vào nhau. Tiếng bụp nhỏ, tiếng bụp to, nổ rền như tiếng bắp rang bơ đang chiên trong lò vi-ba. Tôi thấy lần lượt bọn chúng: một hạt, hai hạt, …,  rồi nhiều hạt nữa, cả ở gần, cả ở xa, ở tít xa, bỗng nhiên khựng lại giữa dòng chuyển động của các con sóng, ngay giữa không trung, liền đó thì tự biến đổi. Bọn hạt vàng ấy, chúng rung nhẹ, trương mọng lên từng khắc một rồi phát sáng y như bụng của con đom đóm; rồi khi bọn nó to đến cỡ hạt sen và rung lắc dữ dội nhất thì nhất loạt nở bung ra, những sợi sáng giấu kín bên trong văng đi kéo thành những vệt sáng lóa, gấp khúc trắc trở như sọc chớp nhá hình trên nền trời đen kịt lúc đêm giông. Một, hai giây sau,  bọn sợi sáng ấy thay phiên, nối tiếp nhau tót phát nhảy ngược lên phía tầng không, từng mét, từng ki-lô-mét, rồi hàng trăm ki-lô-mét, thậm chí hơn nữa, hàng trăm nghìn ki-lô-mét. Mục tiêu của chúng, phía cao trên kia, thôi, đã quá rõ. Chúng thực tình muốn vươn tới những ngôi sao xa xăm cách Mặt Đất đến cả triệu năm ánh sáng trong biển vũ trụ tăm tối kia ư. Tôi bàng hoàng bởi cảnh tượng kì ảo đó, bàng hoàng bởi những ước vọng của bọn hạt vàng sau khi, có thể là thế chăng, chết đi ấy. Bọn hạt vàng, chúng chẳng ngần ngại chạy đến, đuổi theo niềm đam mê nhất thời, dù cho có phải, ừ, tôi sẽ gọi nó là, hy sinh. Và dù cho có phải hy sinh, chúng cũng không hẳn thất bại. Chúng chỉ là không ngừng di chuyển. Chúng luôn có một cái gì đấy để theo đuổi, lúc này hay lúc khác. Chúng cũng đi nhảy, thế, nhưng sẽ nhảy đến nơi trái tim cùng tình yêu của chúng tồn tại.

Hân bỏ chiếc túi xách lên bàn ở một vị trí hơi xa với chỗ ngồi, và nhờ Rem pha cho em một cốc sô-đa lạnh; em nhìn quanh, rồi quay lại đáp lấy ánh mắt gợi chuyện của Rem với một nụ cười chết khát. Không khí hội quán hôm nay khá trầm tư và, chút gì đó u uất; theo lịch thì là đến buổi của S., nhưng cậu ta từ hôm trước đã phủ quyết quyền chủ trì mọi hoạt động, vậy nên mọi người quay qua làm những việc thường ngày còn dang dở; ai cũng chú tâm hết sức với tác phẩm của mình nên chẳng nói lời nào với nhau suốt hai tiếng rồi. Những khối suy nghĩ chất chứa sáng tạo đam mê cũng vì thế mà được sản sinh ra không ngừng, bao trùm lên khắp các góc tường và cả sảnh ‘sân khấu’. Riêng tôi thì lại thu lu ở cái chỗ một bên là chậu hoa mười giờ, hiện tại chỉ toàn cỏ lác sinh sôi, còn bên kia tất nhiên sẽ có một chiếc bàn nhỏ, để đọc báo. Chẳng phải là tôi muốn dò xem mấy bài viết đã gửi lâu lắc của tôi có được đăng không, mà chỉ thuần túy coi tin tức. Tôi đọc qua hết tất cả những trang báo cũ, cách đây mấy tuần, rồi thậm chí là hằng tháng trước, nhưng không có lấy một mẩu tin nào tôi muốn thấy. Cả một năm qua thú thực tôi ít xem báo hay các kênh truyền hình, nhưng chí ít cái tin tôi muốn thấy, nếu mà có, chắc chắn nó phải là một tin giật gân sẽ khiến mọi người bàn tán không ngơi; hiển nhiên, tôi cũng sẽ không bỏ sót thông tin nào như thế. Vậy mà… Tôi đang mải nghĩ vài thứ liên quan đến Franky, thì Hân tới đặt cuốn Vietnamese Costumes through the Ages xuống mặt bàn. Tôi nhìn lên thì chỉ kịp thấy em nhún vai một cái rồi bước trở lại chỗ quầy bar. Định nói với theo câu cảm ơn em đã cho mượn mà lại thôi, tôi cầm quyển sách lên, giở lấy vài trang, ngắm nghía những bộ trang phục từ xa xưa tới thời cận đại của người dân mọi miền trên đất nước mình. Hình ảnh của chúng trong sách đa phần sắc nét, kèm mô tả chi tiết chất liệu, đường may, đôi khi có bổ sung ý nghĩa hoặc diễn giải một vài dữ kiện văn hóa lịch sử gắn theo làm tôi phút chốc trở nên hứng khởi mà quên mất đi những ám ảnh giết chóc tồn tại trong đầu lúc nãy. S. hình như đang để ý tôi, nhưng khi tôi quay sang thì cậu ta lại cắm cúi viết. Có một cuộc gọi đến hội quán, chiếc Oa-phen 48 đời cổ lỗ sĩ của Đức đặt ở góc trái trên mặt quầy bar kêu leng reng náo động mấy hồi liền không dứt; thường thì nhóm chúng tôi chẳng bao giờ ngóng chờ bất cứ cuộc gọi nào đến đây cả: chiếc Oa-phen ấy chuyên dùng để gọi đi, chuông chỉ đổ vào những lần Rem hoặc M. gọi thử để kiểm tra một cách máy móc rằng chiếc điện thoại hẳn vẫn hoạt động ngon lành; và theo truyền thuyết tôi được nghe kể, lần đổ chuông có nghĩa duy nhất mà nó thực hiện thành công đã xảy ra cũng lâu lắm rồi; đó là khi tay cung cấp rượu đời đầu tiên cho quầy bar gọi đến để giới thiệu một loại rượu mới từ Phần Lan mà gã đó vừa kiếm được nguồn cung và bắt đầu đứng ra phân phối. Có thể đây sẽ là lần có ý nghĩa thứ hai chăng; anh chủ xị của hội quán tên M. phải đợi đến hồi chuông thứ sáu mới chạy ra bốc máy chào hỏi, trong khi vẫn đeo nguyên đôi găng tay nặn tượng, nhưng rồi đầu dây bên kia chẳng lên tiếng. Được một lúc thì M. cúp máy và lầm rầm ra vẻ bực mình trên suốt quãng đường quay lại đằng ‘đảo dừa’. Chẵn mười phút sau, chiếc Oa-phen lại leng reng âm sắc của tiếng chuông điện đã han gỉ bởi không khí ẩm thấp từ đợt xuân thì đầu năm. Tiếng chuông đôi phần bất chợt khiến ngay cả Hân cũng phải nhíu mày. Lần này chuông reo đến lần thứ hai thì Rem đã bắt nghe luôn, giả tiếng “A-lô” tò mò và bình thản. “Ha-lô…”. “Alors?”. “Moshi-moshi!”. “Chịu”, Rem hắng giọng hồi đáp cho Hân, tôi, và S. biết sự tình; tôi cũng nghĩ là sẽ lại vậy thôi; Rem bỏ ống thoại đặt cái cạch về vị trí cũ, kèm một tiếng ‘tinh’ rất nhỏ ngân theo. Từ lúc đấy, tôi cứ nghĩ tiếng chuông sẽ tịt hẳn, thì cho gần đến giữa trưa, đợi ngay lúc P. rời khỏi ‘xưởng bạc’, chiếc Oa-phen-sờ-prếc-sơ đời mã 48 của cụ cố Hít-le tiếp tục réo vang lần thứ ba. P. vừa khép xong cánh cửa, bất chợt hoảng hồn vì thấy mọi ánh mắt đều đang đổ dồn như tưới keo dán vào mình:

“Sao cơ?”.

P. cúi xuống chỉnh lại nếp chân váy bị cuộn lên tý chút.

“…!?. À,”, sau thoáng chốc vẫn băn khoăn, P. như sực hiểu ra điều gì, bước đến góc quầy bar đưa tay chuẩn bị nhấc ống nghe lên. “…, này, các vị thật quá đáng đấy nhé. Tay vẫn còn run này.”.

“A lô, Hội quán Rívièr xin nghe.”

“Vâng”. “Franky sao?”. “Được rồi. Chờ chút nhé anh.”.

“Đây. Có một nàng Franky nào đó đang chờ. Mà cô ấy lại chẳng biết tên người muốn gặp là ai, lạ thật, có anh nào muốn tâm tình với Franky không em làm mối cho nè.”, P. cười bông lơn với cả nhóm, xong quay qua Hân nháy mắt ra vẻ ám hiệu, rồi đưa ống nghe hướng ra phía đó, như thể cuộc gọi là cho Hân vậy.

“Không. Là của anh.”, tôi đành lên tiếng trước khi Hân miễn cưỡng bỏ cốc sô-đa xuống. Nó gọi đến đây ư. “Là Franky hả?”.

“… Thật đó?”, P. ra chừng ngạc nhiên, tuy có hơi xuôi xị và giả vờ tỏ nghi ngờ nhưng vẫn đưa ống nghe cho tôi. Có lẽ đúng là thằng Franky đã bảo nó không biết tên người muốn gặp. Thế cũng phải. Mà sao vẫn xưng cái tên cúng cơm Franky với người khác, chắc chắn còn thể hiện bằng chất giọng bỡn cợt như dầu lanh, hoặc cay buốt và sâu hoắm giống một cái hang băng ở Kỷ Đệ Tam đặc trưng nữa, nó không hề mà cũng chưa bao giờ ‘phải’ lo đến việc rồi người ta sẽ nhận ra mình thì phải. Nghĩ đến đấy, tôi tự dằn lòng đừng có mà cảm thấy sợ hãi thêm chút nào nữa trước khi nói hay nghe thấy bất kỳ điều gì trong chục giây kế tiếp.

 

IJKL

 

Dong mắt qua giò hoa tử đinh hương tím ngắt, phía bên kia lớp cửa kính là cả thành phố yên bình và có nắng nhẹ. 9h sáng, nhìn xuống dưới, gió không ngừng thổi, xao xác từng cành cây cụm lá, chỗ thì xanh thăm thẳm, chỗ lại mơn mởn những khóm chồi xanh non ngơ ngác. Trời ơi, chẳng phải con người ta cảm thấy đau khổ nhất chính là khi bị người khác đấm cho gãy mũi hay sao. Tuy thực sự nó không hẳn là gãy (nếu ám chỉ về khía cạnh xương xẩu), mà chỉ là một chút sự sai lệch của các mô sụn khiến cho hình dạng sống mũi nghuệch ngoạc, bớt thẳng thớm hơn nhiều so với lúc bình thường thôi. Nhưng mà cái dị tật ấy sẽ đeo đuổi số phận ta đến hết cái cuộc đời này. Hết cái cuộc đời này cơ đấy. Nhìn vào khuôn mặt phản chiếu phần nào qua tấm kính trong, vết gãy hằn lên nỗi sợ hãi, dù nhỏ nhoi – có lẽ khoảng một phần nghìn giây – thoáng hiền hiện lên tấm màn vô thanh của ký ức. Hơi thở tù túng phả đọng trên bề mặt kính, khiến cảnh vật trở nên trắng xóa, khô tanh, mờ ảo. Đẩy chiếc cửa sổ trượt sang bên; một cơn gió mạnh và buốt giá thốc thẳng vào phòng, làm tung bay rèm treo. Tôi lò dò thòng hai chân qua thành cửa, rồi cứ thế bám mình ngồi đó vắt vẻo trông chờ điều kỳ diệu của mùa xuân.

 

Đám người đứng dàn ngang đằng sau dãy lưới sắt đan mắt cáo là một đám chết rồi. Họ lặng im và dường như không còn hồn phách; như thể họ đang đứng lơ lửng ở giữa thinh không, giữa trời và đất, rồi bỗng chốc tâm trí ngắt phụt, để mặc thân xác cứ thế bị mặt đất hút xuống dưới một cách bạo liệt. Họ chờ một tiếng “Bịch!” gọn ghẽ vang lên. Cú húc tàn khốc vào lớp sỏi đá cứng ngắc sẽ khiến họ lìa đời ngay trong khoảnh khắc. Không có lấy một ai cảm thương cho họ cả. Ở bất cứ nơi nào chiến trận diễn ra. Vận mệnh con người rồi lại thành muối bỏ bể.

 

Tết và sau đó là chuỗi ngày tháng thường nhật chòng chành sóng sánh. Mọi thứ đến quá nhanh và đi cũng thật quá nhanh. Những bộ phim không dàn dựng. Không chịu chi phối bởi bất cứ tay đạo diễn nào. Cứ thế chiếu. Mọi người hòa trong cái nhịp diễn vô thường đó nhưng đều không biết là mình đang diễn. Họ diễn không có sự chỉ dẫn, không phân cảnh, không nhận biết được đâu là góc máy đẹp, rất nhiều cung bậc cảm xúc, vô cùng tự nhiên, mà phần nhiều thô tục. Nhưng trên hết, bất ngờ là họ lại đang diễn theo những kịch bản đã có sẵn. Cứ như là họ biết nó, sâu trong tiềm thức. Những mô-típ xã hội kinh điển mang đặc điểm giống nòi – ý ở đây hẳn là ám chỉ về cuộc sống bầy đàn của lũ khỉ rừng, lũ tinh tinh, lũ vượn; xa xôi hơn là lũ ngựa vằn, lũ cầy hương và lũ hổ đói – được họ kế thừa từ trong trứng nước, đẩy họ vào chuyến du hành xuyên thời gian từ lúc còn là đứa trẻ sơ sinh được bồng bế, được âu yếm rất mực; cho đến khi lẻ loi đơn độc tuổi già. Tôi cũng đã diễn. Được chừng ấy cuộc đời, cho đến lúc tôi 22 tuổi thì tôi biết là mình đã diễn. Lang thang phố khuya, những góc xó xỉnh, lúc 22 tuổi, chỉ có tiếng chân bước nối tiếp tiếng chân bước, cuộc đời chưa định hình, tâm trí mới chỉ dấy lên mơ hồ một nỗi ám ảnh mang tên Kafka và con Quạ, những cơn mưa cá và đỉa, một ông lão mèo (mà sau này tôi liên tục quên và nhớ nhầm tên thành Ushikawa – một kẻ chết trôi dị hợm ở “1Q84”), và gã đại tá Sanders dẩm dít gà quay hay mì xào bò gì đấy. Lúc tôi 22 tuổi, chỉ còn vỏn vẹn hai ngày nữa là hết năm, khi mọi người đã chuẩn bị được khá nhiều thứ cho năm mới sắp sang, cho đêm giao thừa, huyên thuyên hết trong nhà ra đầu xóm, thì tôi quyết định đánh liều đi bộ một vòng.

 

Tôi đi bộ đến lúc 24 tuổi thì trở về với thực tại. Hà Nội chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ đẹp nhất về đêm. Hà Nội chỉ đẹp nhất khi con người ta cảm thấy trống vắng trong lòng. Khi con người ta không còn ai để nghĩ về nữa; khi tôi bỗng dưng tìm ra được chân lý là bản thân mình hoàn toàn có thể điều khiển được đôi chân của tôi đi về/hướng đến bất cứ nơi nào mà tôi muốn. Khi đó, tôi bắt đầu diễn cho mọi người nhìn. Tôi diễn và soi xét mọi phản ứng nếu có của họ. Giống như việc theo dõi một cách chăm chú, ngưỡng mộ, không chút dè chừng những phương trình hóa học mà được trình diễn thực nghiệm ngay tận sát mắt. Nó hồi hộp, ẩn chứa bất ngờ và đau đớn y như khi tôi vô tình thở mạnh vào một đám ni-tơ tri-i-ốt-đít để rồi bị bay mất cái chóp mũi của mình ngay sau đó vậy..

 

Vào một buổi chiều nắng đơm ngoài bậc cửa, tôi bảo Hân: “Em có biết là em đẹp lắm không hử Hân?”. Nhưng có vẻ lời nói đó không khiến em quan tâm cho lắm; em chẳng đáp lại, mà hình như cũng có thì phải, em có mấp máy môi rì rào mấy từ ngữ lẫn vào tiếng gió trào qua khe cửa sổ không đóng chặt, đúng vào khoảnh khắc tôi hết kiên nhẫn chờ đợi câu tiếp chuyện của em mà ngoảnh mặt đi, thế nên là tôi chẳng nghe rõ hay lưu tâm gì cả. Hình ảnh khuôn mặt em đang đau đáu với những đường cọ dài, chốc chốc cứ thập thò lấp lánh sau chiếc giá vẽ cũng chỉ vội sượt qua ý nghĩ nào đó của tôi rồi biến mất. Thực ra bất kể khi nào em bộc lộ niềm say mê của mình; khi em ăn, khi em uống, khi em đứng trên vỉa hè, khi em chỉnh từng ly váy cho khoảng cách giữa chúng đạt độ hoàn hảo mới thôi, khi em khắc họa người ta trên lớp giấy can-sông âm ẩm toàn là màu bùn đất với màu than đá, còn tóc họ thì có màu như thứ tảo đỏ chết trên những rặng san hô ngoài biển ấm, khi em chìm vào một bức ảnh phim ố màu thời gian; thì em trở nên tuyệt đẹp hơn hết thảy. “Hân, chứ em tự thấy mình đẹp nhất ở điểm gì?”. “Là tâm hồn anh ạ.”. Nắng cứ ngả đều ra khắp sân trường, đổ lên cột đá. Tôi rời bậc thềm đi dạo với lon nước đã thôi sủi tăm trên tay. Hân đang mải tìm tuýp màu nước đâu đấy; còn tôi thì chợt thấy chán ghét mình da diết.

 

Bên cạnh thế giới tôi sống và tôi biết, là những thế giới tôi không biết và những thế giới tôi quên khuấy. Tôi xuống xe, gác chân chống. Chẳng thể nhịn hơn. Đám hoa xuyến chi bên đường trở thành nơi tòm tem công cộng bất đắc dĩ của tôi. Trong lúc tôi thả ga thì mấy cánh bướm trắng vẫn dập dờn chẳng biết sợ. Tôi để ý đến chúng từ nãy kể từ khi rẽ vào lối này, tôi cứ nghĩ chúng đã tuyệt chủng từ thời xửa xưa. Nhưng rốt cuộc chỉ là thế giới thành phố đã mất dần đi nhiều thứ mà thôi. Tôi ngồi bệt lên thành cầu, có con rạch nhỏ lắt léo dẫn nước bên dưới, ăn bánh quy tẩm đường tôi mang theo trong ba-lô và uống một ngụm nước nhỏ. Tôi chẳng biết nói gì về đám trẻ con hồ hởi đã đón chào mình ở đầu chỗ ngoặt rồi. Lũ nhóc tỳ tưởng tôi là người ngoại quốc gì đó, cứ xí xớn ra đập, bám tay, “hi.”, “hello, how you.” đủ kiểu. Có đứa con gái còn trịnh trọng “good morning vietnam” khiến tôi ngẩn ngơ mãi đến tận ráng chiều. Tôi lấy sổ, bút, kiếm một trang trắng, vẽ ra hình lá cờ. Tôi họa duy nhất một hình tròn trên lá cờ, rồi sột soạt tô gần kín nó bằng nước mực Iroshizuku thần thánh của mình. Tôi giơ ra trước mặt chúng, ‘điềm đạm’ nói, “the sun. Sun”, tôi chỉ; tôi còn trỏ ngược lại cả mặt trời đang treo như quả đèn nê-ông sáng chói trên kia: “sun”. “Japan. I’m. japan.”. Tôi vừa gắng nói, vừa nguệch ngoạc thêm dòng chữ y thế dưới lá cờ; sau rốt khi hoàn thành thì tươi cười giựt trang giấy ra khỏi phần gáy lò xo và đưa cho đứa lớn nhất ở đấy: “good morning vietnam”. Tôi chỉ tiếc mình đã không có bịch kẹo nào.. Tôi tư lự một mình dưới nắng chiều chói chang, chuyển hướng băn khoăn ngẫm nghĩ không biết khi nào làng quê Việt Nam sẽ không còn những lứa trẻ con da ngăm, loắt choắt, mắt láy như hột nhãn ấy nữa. Chúng sẽ ra sao và trở thành gì khi lớn lên. Những ngày sau này, chúng có như bố mẹ, anh chị chúng, tiếp tục ném đầy những túi ni-lông rác ra bờ nước này nữa không? Thế giới làng quê rồi sẽ chất đầy những bãi rác thải dân sinh. Tôi hớp nốt một ngụm nước to, vặn chặt lại nắp bình, gá vào gióng xe dưới..

 

Đng

 

Nàng đi điệu đà, váy bó eo
Mờ tưởng nhân hôn, lơ ngó theo
Bên đường túy tử màng thân ái
Nhếch cười ngang dặm vận phàm đeo

Thênh thang sầu phố đèn chẳng treo
Ánh trăng chớm xuống, đêm nuốt vèo
Bóng hình như nữ mềm tiếng gót
Lạnh lẽo dải đường mưa sương reo.

 

***

 

Một cọng lá vàng vừa rơi
Mùa đông bỗng tỏ thương tiếc
Run rẩy đưa cơn gió khẽ
Nhẹ cuốn đi những lụi tàn

Đung đưa ly cà phê đắng
Giọt buồn chảy ngược vào trong
Hơi đá lạnh buốt phả sương
Hờ hững đan cài, cuộn rối.

Có giây phút nào bỏ quên
Lặng lẽ ôm chầm kỷ niệm
Vung vẩy nỗi sầu vô cớ
Quèn quẹt.. lóng lánh đuôi mi

 

NGỒI NGƯỢC SÁNG

 

Ảo ảnh và thơ mộng. Bạn bị làn khói ấy làm choáng thị giác. Lóa. Những khối đen. Những cái miệng. Những cái bóng đổ dồn về đây. Những cử chỉ như chim chích chuyền cành. Những cành cây kiểng không hoa. Phía sau, những chiếc ghế ôm lưng. Phía trên, tóc lơ phơ. Phía trong, vô vàn là tình thương trìu mến. Mặt bàn, phê phủng nổi bọt. Dưới chân, mặt trời rơi bay tí tách. Cái đám đông ngược sáng ấy. Trẻ. Bầy đàn. Lạ. Có đôi chút đồi trụy. Thật ra là rất đồi trụy. Nhưng mà đồi trụy nó cũng đã thành một phần của cuộc sống, từ lâu lắm rồi; ở cái đất nước phương Đông hàng ngày vẫn lục đục tiếng búa nhà ai vang vọng này. Khi bữa sáng đã xong, nắng hửng lên muộn mằn, thì cho tới tận trưa, mọi người vẫn không ngừng í ới nhau tìm một chỗ sưởi ấm trong tiết trời lạnh buốt. Những nan quạt nhanh chóng xòe ra phố, chắn lối bộ hành. Lòng đường vi vút bánh xe, vi vút tay lái. Nắng chiếu xiên. Cọng cây bé tí teo. Chẳng thể chắn nổi. Những mái đầu nhấp nhô. Rồi chúng thôi nhấp nhô. Chúng thôi mất nhịp điệu tung tẩy tươi tắn nảy nở trong mắt người ta. Thay vào đó chúng chỉ đung đưa nhẹ nhàng hiền dịu (mà nhẹ nhàng hiền dịu thì thật là buồn chán cho hơi thở). Rồi dần dà, chúng tan quấy vào nhau thành một tấm rèm khô khan, nặng trịch rũ bên cửa sổ mùa hè lúc sáng sớm tinh mơ mờ mờ. Chúng chiếm lấy nguồn sáng rồi trả lại phía đằng đó bóng tối. Bạn nhìn vào chúng, thấy đen kịt. Ấy vậy mà, thôi thôi chỉ lệch một tẹo chút thôi thôi, tim bạn bị chói, tâm hồn nhức nhối, và miệng bạn nhăn nheo lẩm nhẩm câu cửa miệng. Đồi trụy.

Ngắm nhìn mọi người sống. Ở bất cứ đâu. Cũng trào lên một cảm xúc. Một câu chuyện muốn kể. Thành phố đông quá. Đi vài bước là đã chẳng còn quen ai. Những con người trước mặt. Những con người sau lưng. Mờ nhạt tráng rọi thành những tấm hình đen, trắng. Rất nhanh lướt qua miền nào đó của ký ức.

Số phận chúng ta thật nhỏ bé, phải không Hân? .. Trời đã hết những ngày mưa dai dẳng. Hân, hôm nay nắng. Vui mắt và không khí chẳng còn lạnh. Chiều chủ nhật. Những chuyến xe tỉnh, phả bụi khói trên quốc lộ. Khách bắt xe đứng tụm chỗ này chỗ kia. Hành lý là chiếc ba-lô đeo lưng hoặc túi kiểu thể thao xách tay. Họ dựa vào dãy rào chắn ngăn cách con đường với đồng lúa xanh xanh và dải đường sắt tít tắp. Những miếng mít thơm hương nắng, vàng ươm. Những thùng xốp bánh mỳ bọc trong chăn ấm, tía đỏ hoặc xanh bà ba có điểm những bông thược dược tươi rói, cứ ba bốn nhịp rào chắn lại có. Thơm ngậy, ấm nóng hôi hổi. Những người phụ nữ đã mấy lần con cái, đội nón, chít khăn, hoan hỉ ánh mắt nghe tiếng xe dừng bánh. Những chồng ổi vừa buông cây dậy mùi rốp ráp, tròn trĩnh trong nắm tay ôm. Chúng lộn vòng vòng giữa người bán, người mua. Đôi khi chúng được người ta lột vỏ và đưa lên miệng cắn để thưởng thức ngay luôn cái vị chát chúa của ổi xanh còn sượng. Những hình ảnh đó – Tất cả đều thật đẹp.

Giản đơn và hài hòa. Con đường nhỏ nhắn chảy ngược từ cổng vào sâu bên trong làng. Những ngôi nhà thấp, mái bằng. Lùm cây xum xuê lấp đầy khoảng không phía trên những bờ tường không quét vôi, không có những con số. Trẻ con chơi đùa, đạp xe và ăn ngô nướng chuyền tay. Chúng có nhiều nét màu sắc phảng phất bối cảnh những năm 90 của lũ trẻ thành phố. Chúng cười, răng trắng bóc. Chiếc ao làng rộng, xanh rêu và đầy bèo tấm dạt bám quanh mé cầu ao. Có người đang quăng cần kiếm cá. Một con mương với làn nước tĩnh lặng. Một cụ ông hứng khởi đạp xe qua năm cái xã để đi thăm bạn già. Một chiếc xe máy phóng nhanh chẳng thèm để ý. Một chiếc công nông đi ngược chầm chậm nhấn nhá ục ục. Con đường dài. Đi miết rồi đến chợ. Chợ họp ngay hai bên đường cái. Huyên náo. Tay gà, tay vịt. Chậu cá. Hàng rau. Quầy lợn, quầy bò. Người xách, nách mang. Người tay nải, chần chừ gợi giá. Chẳng ai ngơi tay. Chẳng ai kín miệng. Mọi người ở đây thấy mặt nhau là đã kháo lên đủ thứ chuyện rồi, bằng cả cử chỉ lần tiếng nói ồn ã. Chợ phiên, ngày chiều. Không ai vội. Người ta vốn có nhiều mơ mộng, chỉ vừa kịp lúc này để thỏa ra trước khi nhóm lửa cho bữa tối mà thôi.

Hân. Chẳng còn mấy nữa. Đợi một ngày chuyển mùa. Đợi Hà Nội lúc nắng lúc mưa đỏng đảnh y như con gái.

 

NKHT32 – Khúc đua tử thần

..Rosetta bằng cách nào đó đã khiến tôi luôn nhớ đến nụ cười vành trăng của nàng.

 

Và thêm đôi mắt thuộc về biển cả của em nữa chứ. Đôi mắt hình cá voi đang bơi khoan thai sâu tít trong lòng đại dương bí ẩn. Đôi mắt làm tim tôi nhiều lần phải nuốt ực nhè nhẹ. Chúng khiến tôi yêu.. Đến nỗi tôi không biết là bản thân mình yêu cái gì nữa. Yêu chỉ đôi mắt ấy. Hay yêu cả em luôn nữa rồi.

(Có thể là cả em.) Vì lẽ rằng tôi đang nhớ em một cách vô cùng thảm thiết lúc này.

Ôi buồn cười quá. Tôi đang đi xe đạp, mà cười đến nỗi xóc nảy cả ổ gà chứ không phải là nảy cả yên xe như mọi lần. Tôi yêu em ư. Vậy mà sao khi hé môi để thì thầm một cái tên, tôi vẫn cứ gọi Valentina. Rất nhiều, rất nhẹ, rất khẽ. Có những bà chúa gió chứng kiến, tôi không biết phải làm sao nữa. Thế là tôi quyết tâm phải làm gì đó. Phải làm gì ư? Phải yêu cho bằng được em chứ sao. Quyết tâm phải gọi được tên em trong cõi vô thức. Nó khá trắc trở. Lòng quyết tâm của tôi ấy. Hoặc là do tôi không biết cách gọi tên em như thế nào cho đúng. Tôi đổ môi hôi trên những đoạn đường thẳng tắp và êm ro đôi lốp; guồng chân lạc lõng, cô liêu trong bóng tối đầy những xác ve. Để rồi tại vài cái khúc cua nào đấy, tôi vẫn gọi tên Valentina. Tôi lặng im, chừng vài giây, nén hơi rồi thở hắt. Tôi rủa Chúa cùng các đấng tôn nghi. Tôi nói ra tên em sau cùng của tất cả mọi thứ. Như một cách để chuộc lỗi. Nó khiến tôi trống rỗng và chẳng còn suy nghĩ cò cưa nào dưới mớ tóc. Tôi chẳng nhận ra có một điều gì đó khác lạ đã xảy ra. Tôi chỉ thất vọng về bản thân mình. Hay chính xác hơn là cái đầu của tôi ý.

Gió rít qua cặp tai nghe, khi tiếng nhạc vừa dứt, khiến tim tôi bồn chồn. Muse với bản symphony nào đấy; hầu như chỉ có tiếng của nhạc cụ. Nó du dương, sâu lắng và bất tận tới độ khi kết thúc thì biến mất vào trong gió không chút tì vết; mà tôi hoàn toàn chẳng có một chút khái niệm gì.

Tôi lạc mất tay lái ở một đoạn cua với độ tròn lý tưởng; tông ghi-đông vào hàng lan can rào ngay mé nước. Những ngón tay phải tê rần vì bị kẹt giữa tay nắm và thanh lan can bằng sắt. Tôi đã bóp cả hai phanh trước đó tận hai mươi lăm xăng-ti-mét, nhưng tốc độ mà tôi có được lúc đấy đủ để trượt chiếc xe đi một đoạn còn dài hơn thế nữa nhiều. Đau thật. Da tại những vết hằn tím tái trên ngón út, áp út và ngón giữa sởn mấy lớp lên. Tôi đành nhe răng cười méo trẹo, thực chất là để xuýt xoa những tín hiệu đau đớn vây bủa hết các thớ dây thần kinh nơi cánh tay. Mà ở chỗ này nhìn ra hồ Tây tuyệt thật. Mặt nước mênh mông, còn khung trời thì bát ngát. Đôi mắt tôi bắt nhịp với cái đẹp nhanh hơn hẳn so với việc phát hiện có mối nguy hiểm đe dọa ngay tầm. Có lẽ tôi nên thuộc về một nơi nào đó chất đầy sự hoang sơ. Tôi nghĩ đến việc chuyển cuộc sống của mình rời xa Hà Nội. Chẳng phải một, hai lần tôi lôi cái vấn đề này ra đàm đạo với chính bản thân mình. Thời gian càng trôi đi – năm, tháng, ngày – tôi càng cảm thấy mình nên kết thúc sự đời tại phương chốn khác. Tôi nhìn thấy mình ngồi nghỉ tại một mỏm đá, khá nhiều rêu và cỏ mòng xung quanh; cánh áo đã sờn cũ, rách toạc mấy chỗ; đó là chiếc áo với hàng khuy bấm đã han gỉ, phôi sắt nâu xỉn bợt ra bám xung quang những nốt cúc tròn đen đúa. Rừng cây rì rào báo bão ngay phía dưới mép thung lũng. Bên đằng chân trời, mặt trời đã lặn hồi lâu, bỏ lại những dải mây sậm tím; chúng bảo bọc tầng lớp với nhau, ngăn cách ánh nắng chiếu xuyên qua bầu khí quyển ngược vào vũ trụ. Hơi đất xung quanh tôi bốc lên, mang theo cát và mùi rễ cây lục lăng. Bóng tối mau chóng ùa ra, cướp lấy mọi khoảng trống. Nó sà xuống nơi thấp nhất trước, nuốt chửng khu rừng, đánh thức tà ma quỷ ác; đuổi bắt muông thú vào tận hang sâu, đầu độc những khe nước róc rách luồn dưới mấy thân cây gỗ đổ khô sụ, kềnh càng. Sắc trời vần vũ bởi các đường chớp nhấn nhá sọc xiên, âm ỉ mối họa khôn lường. Đôi tai tôi không phải chờ lâu, đã có tiếng ào ào từ xa vọng đến réo rắt khắp màng nhĩ. Tiếng rơi của những hột mưa rền rã bập bập suốt một chặng đường dài, sột soạt giở tung từng viên đá khỏi rìa đất mấp mô đằng kia. Sỏi nhảy lách tách như điên. Chẳng mấy chốc, tôi chìm sũng trong mưa. Tan chảy. Thành một khối bùn nhão nhớt.

Tôi nhớ lại ngày trước, khoảng thời gian mà tôi hoàn toàn sẵn sàng bỏ mọi thứ ở lại và ra đi, cái thời kỳ đen tối thảm hại của tinh thần. Tôi chỉ có một đốm sáng nhỏ nhoi lúc ấy là Valentina để con tim hướng về. Nhưng nàng chỉ khiến tôi yêu đời thêm chút chút mà thôi. Tôi vẫn bỏ quách Hà Nội sang bên, gắn thứ tự do tiều tụy lên đôi chân, bước những bước đi khản đặc họng, tới những nơi xa vời, những nơi mình chưa bao giờ bén mảng đến dù là ở trong đầu. Nhưng nó cũng chỉ là một chút chút tô điểm cho cái tôi hão huyền to như cục nợ một tỷ yên. Sau một tuần lấm lem đất và hơi sương, tôi trở về, mở tủ lạnh và hớp những bịch sữa mát lành, ngủ yên trên giường ấm, thay những bộ quần áo tươm tất, lại rong chơi và ăn bữa tối muộn. Tôi lo lắng cho Valentina thật sự. Dù thế, không hẳn là trăm phần trăm vì lý do ấy mà tôi thất bại trong công cuộc đào thoát khỏi số nợ tỷ yên kia. Có thể chính bởi quá lo lắng cho Valentina mà tôi quên mất cái lý do nổi cộm khiến tôi thất bại ê chề là gì. Rốt cuộc, mọi sự thừa thãi đều gây ảnh hưởng không tốt. Valentina không phải một đứa trẻ như tôi, nàng thản nhiên bước qua cánh cửa mà tôi e sợ, và trang hoàng cuộc đời bằng những bông hoa. Vậy mà tôi đã làm gì với cuộc đời của mình. Tôi làm hàng rào kẽm gai. Tôi còn quên khuấy những đóa trà ở khu vườn, thứ đẹp đẽ duy nhất tôi đã xoay sở để có được. Chúng thui thủi một góc, với mầm nụ úa khô như búp chè đã sao.

Tôi không nghĩ rằng trí óc mình lưu giữ được nhiều thứ lâu đến thế. Mà tất cả những thứ đó lại được tua lại đúng lúc chẳng thể nào ngờ nhất. Tôi vừa thoát khỏi một cú đâm (cũng vài phần) khốc liệt và tâm hồn còn đang treo ngược tận bên kia hồ. Tôi gọi tên Rosetta, nhổm lên xe, tiếp tục căng chân nhồi khuôn lực khi kéo khi đẩy vào đôi bàn đạp. Xích truyền động êm ru trên vòng líp trước-hai-sau-bảy. Quán xá rộ sáng đèn. Tiếng nói cười chen chúc. Hòa tan hết thảy các nỗi nhớ mong. Vầng trăng nhoẻn cười. Sóng nước lớp lang đưa vỗ bờ kè. Tôi có nhận ra một điều gì đó khác lạ đã xảy ra không ư? Đến lúc này tự tôi hẳn là đã biết.