I moon you, when muse wanes

 

Hôm trước, L bỗng nhắn hỏi tôi có mệt không. Tất nhiên là tôi kêu mệt ngay tắp lự. Tất nhiên là mệt rồi. Với đống suy nghĩ vậy. Còn em mấy tuần rồi có gì vui không. Chẳng có gì. Chỉ là những ngày cuối năm đang đến.

Năm vừa qua thật có nhiều điều để nói. Nhưng tôi xin giữ chúng như ý tưởng cho những câu chuyện sau này, nếu tôi vẫn giữ được niềm đam mê nhen nhóm ở chỗ nào đó. Còn chung chung thì năm nay tôi đi khá nhiều. Và hầu hết là tôi long nhong trên chiếc xe đạp của mình.

Những chặng đường tôi đã đi qua, dài có, ngắn có, mệt mỏi có, phấn khích có, chán ghét có, yêu thích cũng có; chúng khiến tôi có cơ hội để giết đi những khoảng thời gian đang sống của con tim và trí óc. Và thế thôi cũng là quá đủ.

Năm nay tôi dừng chân lại Đà Nẵng được hơn một ngày một chút. Nó khác xa so với kế hoạch ấp ủ ban đầu, dù tôi đã hỏi được chỗ thuê nhà, thì rốt cuộc, việc chuyển đến đó sống vẫn chẳng thực hiện được. Hết năm, tôi vẫn ở Hà Nội và cười.

Tôi có thất vọng không. Tất nhiên là có chứ. Không, không phải vì những dự định tôi không làm đến nơi đến chốn. Tôi thất vọng vì việc gạt ra ngoài cuộc sống những câu chữ hay ngôn từ trong hơn nửa năm cuối cùng cũng không làm tôi thấy khá hơn.

Ở một khía cạnh khác, tôi bắt đầu cảm thấy dễ chịu khi phải tham gia vào hệ thống phân phối tài sản của xã hội loài người. Đó là một sự thay đổi nhỏ, vừa buồn cười, lại vừa có gì đó mang tính then chốt. Rốt cục thì tiền cũng không phải một thứ đáng chán.

Tôi đang thèm một ly kem Ý năm viên ở Mũi Né và ngắm biển đêm. Và giá như có thể nói ra mấy điều tôi nghĩ bây giờ, như lúc đó, như lúc thừa nhận với L về sự giả dối của mình thì thoải mái biết mấy.

 

ÂM 12 ĐỘ

 

Tự nhiên buồn buồn. Không biết nói gì. Kiếm được bài Gravity của Coldplay nghe chơi, cuối cùng lại nghiện. Giai điệu bài hát cứ kéo dài bất tận. Muốn dừng cũng không tài nào dừng được. Nó đã trở thành một hiện tượng chi phối tâm tư suốt cả cái đêm không ngủ.

Đến sáng, tìm cớ để lang thang ngoài đường: đi rút tiền, đi mua đồ, đi gửi đồ; vội vàng nhận ra là ngoài đường đông quá. Con phố thân thuộc hai mươi mấy năm sinh sống có lẻ, giờ sao mà chật như nêm, rặt toàn những gương mặt xa lạ trôi nổi giữa hai dòng chảy chậm rì của xe cộ, kẻ muốn đi ngược, người cố chạy xuôi, chẳng ai chịu ai, dù mỗi bên số phận đã được phân định rạch ròi, thì với dã tâm ương bướng, con người ta vẫn muốn gây hấn với nhau, ghìm kẹp nhau mỗi khi có cơ hội.

Đã hơn 8 tháng mình không đi làm, không tham gia vào guồng máy lao động sản xuất của đất nước, không bon chen với thời gian biểu sáng 8 giờ đến công ty, chiều 5 giờ được quyền nhấc mông chuồn về nhưng vì lý do tắc đường nên toàn cố hoãn đến 7 giờ tối mới thèm chạy trốn khỏi những chiếc màn hình máy tính để quay lại với thế giới tình yêu đầy mộng tưởng ngoài kia, khi khói bụi đã lắng xuống và trời đất không mảy may ồn ào nữa. Đây là lần 8 tháng thứ hai mình có cả một quãng thời gian rảnh rỗi vô bờ bến để cóp nhặt và thử thách từng mảnh nhỏ trong cái ước mơ to lớn của cuộc đời. Tuy nhiên, có lẽ như thế chưa đủ. Mình vẫn thất bại. Khi đứng trước H., mình vẫn là một kẻ thất bại hoàn toàn, dù cho cố gắng thế nào. Chẳng thể dứt hình ảnh đấy ra khỏi tâm trí, với mối dày vò của người thua cuộc, chính H. đã khiến mình phải tìm đến những ca từ của Gravity để nguôi ngoai đi những ý nghĩ tiêu cực chất đống trong tâm can. Suy cho cùng, có lẽ mình nên kéo dài hạn định 8 tháng ra thêm một chút nữa. Chỉ một chút nữa thôi.

Mình có một cơ hội để gây hấn với người khác, và mình đã tận dụng nó. Mình cảm thấy xấu hổ liền sau đấy, nhưng chuyện đã không thể cứu vãn. Vì thế, mình chuyển sang việc nghĩ về thời tiết và vài thứ phù du như một cách để lảng tránh tội lỗi.

Thời tiết năm nay khá kỳ quặc, nhưng lại phù hợp với sự bất ổn của toàn cầu trên mọi khía cạnh. Qua mỗi năm, mùa đông, giống như một vận động viên điền kinh ngày càng luống tuổi, chẳng còn được trợ cấp theo lối trọng vọng nữa, nhưng vẫn cố miên mải trên những chặng đường vươn tới thành phố nơi mình đương sinh sống – Hà Nội, ừ thì, nó vẫn đến được đích, vẫn khiến cho nhân dân Hà Nội phải than thở mỗi khi giá lạnh sà xuống trong đêm, nhưng mình cảm tưởng rằng nó sẽ chẳng bao giờ có được những cú cán đích huy hoàng như những năm xưa cũ. Âu cũng là thế, chẳng ai giữ mãi được vinh quang. Nhưng vinh quang lại là một thứ đẹp đẽ mà ai cũng muốn giữ. Giống như những hành tinh chẳng thể nào quay mãi. Tính tình mỗi đứa cũng khác, có đứa quay nhanh, có đứa quay chậm. Nhưng nội tại thì cái sự quay nó vốn là một thứ vô cùng đẹp đẽ, nên tất thảy, thì hành tinh nào cũng muốn quay, chúng quay quanh Mặt Trời, và quay cả quanh chính chúng nó.

Mình đang định lấy bối cảnh ở San Marino nằm gọn lỏn trong lòng nước Ý làm nơi kết thúc Đ. T. H. Và, cho dù vùng đấy ít được mùa đông ưu ái như những xứ khác thuộc vùng núi Alps, thì mình vẫn muốn nhấn chìm nó trong cơn mưa tuyết dữ dội và lạnh giá nhất mà mình biết. Mình muốn để H. trơ trọi ở đấy. Nàng sẽ đóng vai một bóng đen ma quái trên nền tuyết trắng, cứ khi đêm đến lại thảng thốt gào rú, vang thứ âm thanh não nề trần thế ra tới tận bờ biển Adria, từ sâu thẳm bên trong lòng ngọn tháp canh Cesta đã rúm ró và khô mục bởi thời gian. Mình sẽ hòa bình minh với đêm đen lại làm một. Tiếp theo, mình sẽ vặn dòng chảy của nhiệt kế xuống đúng âm 12 độ Celcius. Rồi thì, tất cả những việc mình cần làm chỉ còn gói gọn bởi hai chữ chờ đợi. Mình không biết mọi thứ sắp đặt sẽ đi đến đâu. Nhưng được cái là mình sẽ không dừng lại bây giờ.

 

Đng

 

Nàng đi điệu đà, váy bó eo
Mờ tưởng nhân hôn, lơ ngó theo
Bên đường túy tử màng thân ái
Nhếch cười ngang dặm vận phàm đeo

Thênh thang sầu phố đèn chẳng treo
Ánh trăng chớm xuống, đêm nuốt vèo
Bóng hình như nữ mềm tiếng gót
Lạnh lẽo dải đường mưa sương reo.

 

***

 

Một cọng lá vàng vừa rơi
Mùa đông bỗng tỏ thương tiếc
Run rẩy đưa cơn gió khẽ
Nhẹ cuốn đi những lụi tàn

Đung đưa ly cà phê đắng
Giọt buồn chảy ngược vào trong
Hơi đá lạnh buốt phả sương
Hờ hững đan cài, cuộn rối.

Có giây phút nào bỏ quên
Lặng lẽ ôm chầm kỷ niệm
Vung vẩy nỗi sầu vô cớ
Quèn quẹt.. lóng lánh đuôi mi

 

NGỒI NGƯỢC SÁNG

 

Ảo ảnh và thơ mộng. Bạn bị làn khói ấy làm choáng thị giác. Lóa. Những khối đen. Những cái miệng. Những cái bóng đổ dồn về đây. Những cử chỉ như chim chích chuyền cành. Những cành cây kiểng không hoa. Phía sau, những chiếc ghế ôm lưng. Phía trên, tóc lơ phơ. Phía trong, vô vàn là tình thương trìu mến. Mặt bàn, phê phủng nổi bọt. Dưới chân, mặt trời rơi bay tí tách. Cái đám đông ngược sáng ấy. Trẻ. Bầy đàn. Lạ. Có đôi chút đồi trụy. Thật ra là rất đồi trụy. Nhưng mà đồi trụy nó cũng đã thành một phần của cuộc sống, từ lâu lắm rồi; ở cái đất nước phương Đông hàng ngày vẫn lục đục tiếng búa nhà ai vang vọng này. Khi bữa sáng đã xong, nắng hửng lên muộn mằn, thì cho tới tận trưa, mọi người vẫn không ngừng í ới nhau tìm một chỗ sưởi ấm trong tiết trời lạnh buốt. Những nan quạt nhanh chóng xòe ra phố, chắn lối bộ hành. Lòng đường vi vút bánh xe, vi vút tay lái. Nắng chiếu xiên. Cọng cây bé tí teo. Chẳng thể chắn nổi. Những mái đầu nhấp nhô. Rồi chúng thôi nhấp nhô. Chúng thôi mất nhịp điệu tung tẩy tươi tắn nảy nở trong mắt người ta. Thay vào đó chúng chỉ đung đưa nhẹ nhàng hiền dịu (mà nhẹ nhàng hiền dịu thì thật là buồn chán cho hơi thở). Rồi dần dà, chúng tan quấy vào nhau thành một tấm rèm khô khan, nặng trịch rũ bên cửa sổ mùa hè lúc sáng sớm tinh mơ mờ mờ. Chúng chiếm lấy nguồn sáng rồi trả lại phía đằng đó bóng tối. Bạn nhìn vào chúng, thấy đen kịt. Ấy vậy mà, thôi thôi chỉ lệch một tẹo chút thôi thôi, tim bạn bị chói, tâm hồn nhức nhối, và miệng bạn nhăn nheo lẩm nhẩm câu cửa miệng. Đồi trụy.

Ngắm nhìn mọi người sống. Ở bất cứ đâu. Cũng trào lên một cảm xúc. Một câu chuyện muốn kể. Thành phố đông quá. Đi vài bước là đã chẳng còn quen ai. Những con người trước mặt. Những con người sau lưng. Mờ nhạt tráng rọi thành những tấm hình đen, trắng. Rất nhanh lướt qua miền nào đó của ký ức.

Số phận chúng ta thật nhỏ bé, phải không Hân? .. Trời đã hết những ngày mưa dai dẳng. Hân, hôm nay nắng. Vui mắt và không khí chẳng còn lạnh. Chiều chủ nhật. Những chuyến xe tỉnh, phả bụi khói trên quốc lộ. Khách bắt xe đứng tụm chỗ này chỗ kia. Hành lý là chiếc ba-lô đeo lưng hoặc túi kiểu thể thao xách tay. Họ dựa vào dãy rào chắn ngăn cách con đường với đồng lúa xanh xanh và dải đường sắt tít tắp. Những miếng mít thơm hương nắng, vàng ươm. Những thùng xốp bánh mỳ bọc trong chăn ấm, tía đỏ hoặc xanh bà ba có điểm những bông thược dược tươi rói, cứ ba bốn nhịp rào chắn lại có. Thơm ngậy, ấm nóng hôi hổi. Những người phụ nữ đã mấy lần con cái, đội nón, chít khăn, hoan hỉ ánh mắt nghe tiếng xe dừng bánh. Những chồng ổi vừa buông cây dậy mùi rốp ráp, tròn trĩnh trong nắm tay ôm. Chúng lộn vòng vòng giữa người bán, người mua. Đôi khi chúng được người ta lột vỏ và đưa lên miệng cắn để thưởng thức ngay luôn cái vị chát chúa của ổi xanh còn sượng. Những hình ảnh đó – Tất cả đều thật đẹp.

Giản đơn và hài hòa. Con đường nhỏ nhắn chảy ngược từ cổng vào sâu bên trong làng. Những ngôi nhà thấp, mái bằng. Lùm cây xum xuê lấp đầy khoảng không phía trên những bờ tường không quét vôi, không có những con số. Trẻ con chơi đùa, đạp xe và ăn ngô nướng chuyền tay. Chúng có nhiều nét màu sắc phảng phất bối cảnh những năm 90 của lũ trẻ thành phố. Chúng cười, răng trắng bóc. Chiếc ao làng rộng, xanh rêu và đầy bèo tấm dạt bám quanh mé cầu ao. Có người đang quăng cần kiếm cá. Một con mương với làn nước tĩnh lặng. Một cụ ông hứng khởi đạp xe qua năm cái xã để đi thăm bạn già. Một chiếc xe máy phóng nhanh chẳng thèm để ý. Một chiếc công nông đi ngược chầm chậm nhấn nhá ục ục. Con đường dài. Đi miết rồi đến chợ. Chợ họp ngay hai bên đường cái. Huyên náo. Tay gà, tay vịt. Chậu cá. Hàng rau. Quầy lợn, quầy bò. Người xách, nách mang. Người tay nải, chần chừ gợi giá. Chẳng ai ngơi tay. Chẳng ai kín miệng. Mọi người ở đây thấy mặt nhau là đã kháo lên đủ thứ chuyện rồi, bằng cả cử chỉ lần tiếng nói ồn ã. Chợ phiên, ngày chiều. Không ai vội. Người ta vốn có nhiều mơ mộng, chỉ vừa kịp lúc này để thỏa ra trước khi nhóm lửa cho bữa tối mà thôi.

Hân. Chẳng còn mấy nữa. Đợi một ngày chuyển mùa. Đợi Hà Nội lúc nắng lúc mưa đỏng đảnh y như con gái.

 

Ảo ảnh

 

Phố xá ướt. Mưa rơi thật nhiều. Em ngồi một góc. Ủ ấm thân mình bằng chiếc áo bông dày. Uống một cốc sữa nóng. Lặng thinh nhìn ra ngoài đường qua lớp kính ngăn. Một chiếc lá vàng rơi se sẽ. Em đưa mắt nhìn. Chiếc lá rơi chạm vỉa hè. Nằm đó mãi. Cho đến tận lúc em quệt váng sữa trên môi và nói muốn ra về. T. cũng về cùng. Mưa chấp chới không ngừng.

Cà phê hòa tan có một vị ám ảnh. Tôi nhìn theo em. Cười lấy lệ và giơ tay chào khi em ngoảnh mặt lại, nói tạm biệt thêm một lần nữa. Có những câu chuyện chẳng bao giờ nên kể. Dù cho chúng là những câu chuyện có thật. Tôi lấy giấy, bút. Tưởng tượng như mình đang ở dưới ánh trăng, còn tiếng mưa là tiếng sóng. Đây là căn lều, được chiếu sáng bởi cây đèn pin vứt góc. Trời đang đêm. Em ở ngoài kia. Chăm chăm ngắm sóng một mình. Không thầm thì mà cũng chẳng suy nghĩ. Còn hắn ở trong lều, váng vất mùi sữa nóng em đã bỏ lại một ít trong chiếc ca nhựa, ngồi tựa mình lên chiếc túi ngủ còn đang cuộn chặt, đọc “Những du khách trên sông Đa-nuýp”. Cuốn truyện thuộc loại bỏ túi, tinh gọn rất vừa tay. Hắn đau đáu với đam mê bất tận của mình trong những trang sách. Chẳng có lấy giây phút nào lo sợ rằng em sẽ bỏ trốn. Đêm đen kịt, lạnh tanh và hung hiểm. Vốn dĩ em đâu có đủ can đảm thế, để chạy trốn hắn vào lúc này cơ chứ. Hắn luôn biết rõ em; và hắn đúng. Khi đã muộn, em trở lại lều, như đêm trước, lấy cho mình chiếc túi ngủ màu xám, co mình vào giấc mơ nào đó em cần phải mơ để quên đi tình trạng lúc này. “Muốn nghe chút tin tức không?”. Hắn nói. “Có thằng điên nào đang tìm em đấy.”. Hắn đẩy chiếc radio cùng tai nghe sang cho em. “Mấy bản tin thì chẳng có phát lại đâu.”. Hắn kết lời, ra vẻ quan tâm. Em quay người lại, chân duỗi ra khi hơi nhổm mình dậy khiến đuôi cái túi ngủ quàng lên che mất chiếc đèn pin cùng toàn bộ ánh sáng trong căn lều. Hắn nhún vai; mất đi nguồn sáng rọi, hắn chẳng đọc được nổi một chữ nào từ quyển sách, liền ngẩng đầu, nhìn em giễu cợt. Cả hai rơi vào im lặng trong một lúc lâu.

Tôi đứng dậy. Ra quầy thanh toán, sau đó về thẳng nhà. Điện bật. Cõi lòng mông lung và ngơ ngác. Rồi thì tiếng dương cầm lanh lảnh, đều đặn nhảy nhót dưới ngón tay. Những con người đi qua tôi, mỗi người để lại một niềm suy nghĩ. Em đi qua tôi; đong đầy khối tâm tư.

 

SỰ PHỦ CỦA NGÔN NGỮ – VẬT CHẤT HAY Ý THỨC CÓ TRƯỚC – CON NGƯỜI VĂN MINH TỚI ĐÂU

 

Cuối năm. Thời tiết lạnh. Bao lấy mọi thứ trong một màu sương giá. Khung cảnh rực rỡ mùa hè hay vàng óng của mùa thu nay chỉ còn giản dị hai màu đen và trắng. Ôi, mình thích những con phố mới sớm dậy, vẫn còn đang cố bám giấc, khe khẽ run thân hình cứ mỗi đợt gió lùa qua. Ở đó, sự chậm chạp của thời gian tưởng như có thể đông cứng cả cái kim giây của đồng hồ lại được. Ôi ôi, vài ký ức trở về. Mặt đường này thì đen. Vỉa hè kia thì trắng. Thân cây thì như than nhám. Búi lá phía trên thì xám úa lưng chừng. Những cuộn sương lơ vơ vờ cuốn lấy mấy tia nắng mong manh để mà có cớ tan biến cho mau…! Ôi, hình ảnh em cười nghiêng nghiêng, chao đổ hết cả mấy cây cột đèn soi đêm im phắc. Hay như lúc em thảng thốt về cuộc đời buồn tẻ bằng chất giọng xao suốt như một đường chỉ mảnh bằng sợi tơ. Thật sao khó mà quên được.

 

Cuối năm. Tôi muốn trả lại mọi sự bận bịu cho đời và nói những lời yêu thương tới hết thảy con người xung quanh. Nhưng hơi lạnh đã trù ếm tất cả. Nó biến điều cố hữu trở nên mặc nhiên. Ấy là việc tôi chẳng khi nào làm được những thứ tôi bỏ công sắp xếp trong đầu. Và vì thế, tôi đi trên đường. Nghe Amsterdam của Coldplay. Lơ đãng tưởng tượng ra vài viễn cảnh hay ho cho câu chuyện nào đó tôi viết, dựa theo mạch cảm xúc mà bài hát mang lại. Và thực sự, ngay tức khắc, lãng quên mất mấy thứ chính yếu mà tôi vừa/đang muốn thực hiện ở cuộc sống thực tại. Dọc các phố sá, tôi ngắm nghía từng mảng thành phố nơi tôi sinh sống. Chẳng có bài nhạc nào về Hà Nội, theo cái cách Chris đã cảm nhận đối với Amsterdam, gợi lên trong đầu. Những dãy dài ô tô. Đèn đỏ, xe cộ dừng lại. Phố bên kia đèn xanh, người hối hả phóng đi; người vừa khua chổi một hồi trước đó, lặng lẽ đẩy xe rác lộc cộc băng đường.

 

Tôi rẽ vào một quán, gọi Dimah trà đào nóng. Thong thả ánh mắt, tâm trí trở về như tờ giấy trắng – không phải một tờ mới tinh, mà là tờ giấy đã được người ta xóa đi những đường chì đậm nét bằng một cục tẩy không lấy làm tuyệt hảo cho lắm. Trà ấm và nồng hương trong cái tiết trời buốt giá khiến tôi nao lòng. Đôi lúc, con người ta cần một chỗ để cô đơn mãi mãi. Như nơi này, như lúc này, như thế này. Giống như những chiếc máy bay đã phải đấu tranh cố thủ mình trong tiềm thức nhân loại cho đến tận những năm 1900 vậy. Khi mà sự sẵn sàng của mọi thứ là chưa đủ. Tôi nhìn chếch mé sang Nhà hát lớn. Đủ màu sắc của quần áo rải trên các bậc thềm. Đa số là gam tối đậm trầm mặc, vài cái nóng – da bò, hai cái trắng muốt như bông trên trời. Ở đây, hiển nhiên là tôi không nghe thấy gì. Tôi chỉ đơn thuần quan sát và thêu dệt nốt phần còn lại. Vài nhóm tĩnh lặng. Một kẻ mấp máy trao đổi. Người khác lắng nghe hoặc thờ ơ, vô định. Vài nhóm khác liến thoắng. Như chợ. Vài nhóm khác nữa thì kích động. Họ cười phá. Những chiếc đèn pha lóa sáng vòng quanh mãi bên chiếc bùng binh trước mặt họ. Không chịu ngừng, như chong chóng.

Gió.

Miền cỏ rì rào.

Tôi – bọ cánh cam – nhấm nháp những giọt sương có vị trà đào lạnh lẽo cuối cùng của dịp cuối năm. Trống rỗng suy tưởng.

 

ROSETTA, 219

 

Những tấm bia mộ đen trùi lũi, nhấp nhô cập kênh kỳ dị trên nền đất trắng xóa. Gió lạnh buốt ngang tàn thổi rít. Tuyết rơi ráo riết, bám trĩu trên cành tuyết tùng xương xẩu. Những bụi thông hụt hẫng ẩn mình sâu hun hút vào bóng tối. Tôi ở đó, bước qua cánh cổng vòm, ngay chính dưới bức tượng phù điêu hình chim mỏ ác. Có một quá khứ cần phải được gỡ bỏ tại chốn này. Một nấm mồ. Một bộ xương đã hóa đá. Một linh hồn quanh quẩn.

Lạc rồi. Ngõ nhỏ và tối tăm. Dù bình minh đang lên. Bầu trời xanh xám trở lại. Những ô cửa sổ vang ánh đèn dầu chập chờ đưa đẩy vàng khè cả kính. Tôi thấy máu mình chảy từng dòng xuống cằm, nhỏ giọt tong tỏng xuống từng viên đá cuội trải đường loáng bóng nước. Đen thẫm. Nhầy nhụa. Tôi thở dốc. Hớp lấy đám sương mù do việc thở gây nên vào bụng. Rồi nhả một đám khác ra từ buồng phổi. Mặn. Chát. Thất bại. Chạy trốn. Choáng váng. Con người ta. Sẽ làm gì đây nhỉ? Chạy lại đoạn phim đã rồi. Khi đôi mắt vẫn còn run rẩy và đôi tay vẫn còn cái cảm giác kinh tởm nhất mà Chúa hằng xếp đặt sẵn trong tiềm thức của mỗi con người.

Tôi dừng lại trước số nhà 219. Nó đã cũ kỹ đi rất nhiều. Cánh cửa bết màu da gà thối rữa. Ba bậc cấp gãy vụn bởi rêu và cỏ dại. Thứ tay vịn bằng sắt cây vẫn điềm tĩnh ở đó, bên trái. Nhưng lại bị khóm hồng bỏ hoang ngay bên cạnh chăng chít cành leo bám lấy. Chúng trông khô khốc, gai góc, đầy sẹo, cả han gỉ nữa. Bên phải là những chậu cây đổ nát. Đất vẫn còn trong chậu, khô cằn đến nỗi bật cả nền rêu lên, còn thịt đất bên dưới thi nhau nứt toác. Cây cối có lẽ không được trồng ở đấy, hoặc nếu có thì hẳn là chúng đã tan chảy bởi ánh mắt trời rồi bốc hơi mất. Không, đất trong chậu phẳng lì. Những vết lồi lõm có lẽ do vài cơn mưa rào hiếm hoi rơi xuống. Tôi còn nhớ, ở bên phải này, hồi xưa là một bồn nước róc rách, cao cỡ một mét. Nhỏ thôi. Chắc được một vòng tay ôm. Ngay giữa bồn nước hình tròn có một chỏm xi-măng, vừa vặn với hai ngón chân ở bên cẳng trái của một bức tượng khắc họa một nàng vũ nữ ba-lê đang đứng trong tư thế quay vòng. Giờ thì chẳng còn dấu vết gì của cái vẻ đẹp ấy nữa. Nó cũng đã biến mất như một làn hơi nước.

Con số 219 được đẽo gọt rất mỹ mãn trên lưng cánh cửa gỗ bơ phờ; những nét cong tròn khi thanh khi đậm, và đuôi mỗi chữ số đều được vuốt nhọn rất tinh tế. Tôi nhìn hàng số trên cánh cửa chằm chặp liên hồi. Kiểu bị thôi miên. Trái tim hối thúc tôi chạy lên đó, vặn tay nắm, mở cửa bước vào trong, đến ngay chỗ chân cầu thang dẫn lên tầng hai, bên bức tường bên tay trái, có một khung cửa nữa, mở lối vào căn phòng nhỏ, được dùng làm phòng trà, với cửa sổ nhìn ra một góc vườn sau, nơi có khoảnh tulip vuông vắn và hai luống cải xoong trải dài khoảng năm bộ chân. Ấy là khi chủ nhân của chúng còn thịnh vượng, yên ấm và vẫn mang vẻ tài hoa lỗi lạc. Còn thì lúc này, khi đã chấp nhận cảnh vật ở mặt ngoài, tôi không có gì phải băn khoăn trong việc nghĩ rằng khu vườn nhiều màu sắc và đầy những tiện nghi, tiện ích nho nhỏ đằng sau cũng sẽ không còn. Cả căn phòng nhỏ thơm phức mùi trà hoa nữ giờ đây không biết sẽ bám bao nhiêu lớp bụi lên mình; những mảng giấy dán tường với họa tiết là những nhành nguyệt quế chắc đã mủn và bong tróc đi ít nhiều. Một màu bùn nhuốm lên tất cả tâm trí, khiến lòng tôi nhộn nhạo pha lẫn nỗi hồi hộp thầm kín.

Không, tôi không nghĩ điều đấy có thể xảy ra.

Nó là vật được cho là quý giá nhất trong ngôi nhà, dù bình thường không được coi sóc cẩn thận lắm. Nhưng nó luôn nằm đó, trên chiếc kệ nhỏ đặt trong phòng trà ở phía tường giáp với cầu thang. Nó luôn thu hút mọi ánh mắt nhìn, lúc người ta ngồi xuống ghế hay đứng bên cửa sổ, với cốc trà là là hơi khói và tỏa ra thứ hương vị đang hàm muốn phỉnh nịnh cánh mũi. Nó là một cuốn sách, bìa được làm từ da bò thuộc nửa vời, có dây da, cũng cùng chất liệu với bìa, được gia công thêm khuy bấm bằng đồng, dùng để buộc mặt bìa sau với mặt bìa trước. Những đường chỉ khâu tỉ mỉ và đồng điệu với nhau, tạo nên thứ âm hưởng ngay ngắn, điềm tĩnh lan truyền đến mọi ngóc ngách trong tâm hồn tôi ngay khi tôi chỉ vừa mới cầm nó trên tay. Tôi thấy ngay nó là cuốn sách có sức mạnh tinh thần phi thường đối với bản thân mình. Tôi muốn cướp lấy nó. Nhưng nhanh chóng nhận ra vị thế của một người khách. Tôi đặt trả nó xuống mặt kệ. Gieo sự chú ý sang tiếng chim hót bên mé rào ngoài vườn.

Chục năm trôi qua chóng vánh. Đã có những cái chết, xảy ra lặng lẽ có, ồn ào có. Con người có, chó có, mèo có, chim muông có. Các hồn ma của muôn loài từ bấy đến nay đã thôi quyến luyến xôm tụ một chỗ, chúng dần tản theo chín hướng, biết mất vào những thế giới rất riêng của mình. Chỉ còn tôi vẫn nấn ná, luôn nhủ thầm với bản thân rằng chưa đến lúc. Tôi có nhiệm vụ phải đi tìm và tận diệt bằng hết những sinh linh bị nguyền rủa, cho dù là nắm xương tàn – tôi sẽ đến và đun chảy tro cốt trong chiếc bình chứa dịch dạ dày của quỷ đế, hay một đứa bé mới chào sinh – tôi sẽ bóp nát trái tim mềm yếu của nó nơi bàn tay phải, nơi trước đây từng là mồi ngon cho hàm răng đầy nanh của một con dã thú, vết cắn và nghiến của nó đã để lại một đường sẹo tởm lợm, hoàn toàn ngẫu nhiên lại mang hình hài của ký hiệu Điểm Cuối tà ác. Nhiệm vụ ảm đạm đó chưa bao giờ kết thúc, cũng chưa bao giờ gián đoạn. Tôi lãng quên mất tuổi tác của mình, lãng quên luôn cả sinh mệnh – mà điều đó có quan trọng gì; thần chết cũng là một sinh linh bị nguyền rủa, nếu hắn có đến đây, hắn sẽ có cơ hội để đoán mò tuổi thật của tôi; nếu hắn trả lời sai – không đúng với mong muốn nào đấy mà tôi nung nấu, sự sống của hắn chắc chắn sẽ trở nên nghẹt thở hơn lúc nào hết.

Tôi đang khoác áo măng-tô loại vải khaki mang màu sắc của đụn cát sa mạc khi mặt trời vừa ngắt sáng, đội mũ vành đen bọc nhung mềm. Túi áo bên phải ngồn ngộn và ấm nóng, ống quần dạ óng lên lấp loáng thứ nước sền sệt loang xuống theo những đường chảy rỉ từ bên trong túi, vốn đã thấm đẫm cả một vạt đuôi áo. Tay bên trái tôi cầm một chiếc chìa khóa lẻ loi, gỉ sét đôi chỗ, những chỗ khác thì sần sùi khiến tôi tưởng thứ nằm gọn trong những ngón tay run rẩy của mình hiện giờ chỉ là miếng đá nhỏ. Trông nó chẳng có vẻ gì là sẽ tra được vào lỗ khóa của căn nhà số 219 kia cả, sau bao nhiêu năm như thế. Căn nhà, hỡi ôi, đã bị nguyền rủa. Bởi một bọn hắc ám xảo quyệt. Chúng muốn kết thúc tôi. Chúng biết thẳm sâu trong ý thức, tôi mong muốn có được cuốn sách kia theo lối quyết liệt đến nhường nào. Tôi sẽ không đời nào phá hủy căn nhà mà vẫn để quyển sách diệu kỳ kia nằm im lìm đấy. Vừa hay tin tôi đã vội đến ngay, dù dở dang nhiệm vụ trước đó. Vậy mà không kịp. Bọn chúng đã hoàn thành xong sứ mệnh thần tốc không tưởng. Mà lại còn vô cùng trọn vẹn. Không chút thừa thãi.

Tôi đứng bối rối. Trước niềm tin kiên định chết chóc dành cho số phận mình. Như giống loài người, tuy tôi thực hiện công việc cũng theo tính chất vẹn nguyên và gọn gàng các mục tiêu; nhưng thực sự ở vài thời điểm, tôi vẫn thấy yếu lòng, thỉnh thoảng vẫn nhỏ những giọt nước mắt gần như vô nghĩa. Rồi tôi để sổng các con mồi. Trao cho chúng những cơ hội sinh sôi, phát triển và hành động không bị kềm tỏa. Cứ nghe một tội ác man rợ nào đó đang hoành hành, tôi lại tự nguyền rủa bản thân đã ra tay không dứt khoát. Nhưng hẳn là tôi không có pháp lực nguyền rủa. Cái chết không đến cùng lời trù ếm đã định là minh chứng lớn lao nhất. Thực ra, có một lối khác, hiềm vạn nguy hiểm và đau đớn: tôi không thể bị kẻ thù buông những lời ám nguyền trực tiếp, nhưng sẽ để lọt lưới chúng khi bản thân chủ kiến cam chịu một sinh linh bị nguyền rủa nào đấy thay vì nhiệm vụ hàng đầu là tiêu diệt nó. Mọi sự hối thúc đổ dồn mau chóng, khiến tôi phải guồng đôi chân. Dù là gì, thì tôi cũng đã được dạy là không được trễ nải bất cứ tích tắc nào trong việc quyết định. Một tích tắc ngần ngừ cũng đủ giết chết tất cả các cơ hội mà sự khôn ngoan ban cho đầu óc. Vì thế mà tôi chạy. Như mũi tên vừa phóng.

Gió lướt ngang qua mấy hồi. Bầu trời rơi vào thế chạng vạng. Tôi thấy cuốn sách rơi khỏi tay mình đánh một tiếng phập trên lối hè. Tôi biến thành một thứ ảo ảnh loang loáng, nhờ nhợt tan dần tới trong suốt, và rồi mất hẳn vào cõi vô hình. Sự thể kết thúc mau chóng. Tôi còn không được phép trải qua kiếp ma nữa, mà phải đi đến Điểm Cuối ngay tắp lự. Không phải hướng thứ bốn, hướng thứ bảy – có một sự thỏa thuận bẩn thỉu gì đó đã diễn ra giữa lời nguyền và tay sứ giả chết chóc nấp đằng sau, tay đó còn không mang theo lưỡi hái cho đúng với nghi thức tiêu chuẩn; tôi phải hướng theo con đường thứ bảy để trở về Ngôi Nhà Chung qua Điểm Cuối. Tôi sẽ bị đày ải đến xứ Mác một thời gian, và hơn nữa còn bị buộc quên sạch tất cả ngay khi tới được Điểm Cuối. Đó là chốt chặn thù địch; tại đây, người ta không cho phép linh hồn ai đi theo hướng thứ bảy được lưu giữ bất cứ điều gì, dù chỉ nhỏ li ti cỡ hạt bụi, trong ký ức vào Ngôi Nhà Chung để làm tiền đề cho kiếp sau, mọi thứ, cả cái hàng chữ vàng lợt dập chìm bên ngoài bìa da sờn mốc của cuốn sách đó: ROSETTA.