Những dự định

 

Vậy là đã sang năm 2017. Trái Đất vừa hoàn thành một chu trình quanh Mặt Trời và giờ là lúc để nó bắt đầu một vòng quay mới. Cuộc sống năm nay của tôi bỗng trở nên tự do hơn và điều đó trở thành một vấn đề lớn. Tôi băn khoăn với việc mình nên ổn định hay tiếp tục hoang dã. Tôi mất đi một mục đích lớn trong đời, cảm thấy mọi chuyện dường như không còn suôn sẻ với mình nữa. Như một lẽ dĩ thường là tôi bắt đầu hoang mang. Xụi lơ trước thực tế rằng tôi không hề có kế hoạch gì cho giai đoạn này cả.

Sáng nay lôi xe đạp ra lau rửa. Cũng để nó bám bụi lâu rồi. Tôi nghĩ về những chuyến đi. Liệu còn nơi nào tôi muốn đến, điều gì tôi muốn thực hiện. Dường như không có. Việc đó tệ không nhỉ. Khi đánh mất bản thân vào một nơi nào đó không có lối ra. Quãng đường xe đạp cuối cùng của tôi trong năm cũ dài 324 ki-lô-mét. Nó bắt đầu từ thành phố Phan Thiết cho đến thành phố Vũng Tàu. Đó là những ngày buồn cười, khi lòng tôi nhẹ bẫng đến lạ kì. Những con đường nhỏ, những ngôi nhà nhỏ, sát biển, mang một vẻ bình dị ít đâu tôi thấy được. Ở những nơi vắng lặng, tôi thường gặp những người xa xứ. Là những người phụ nữ đã lớn tuổi. Họ bỏ quê ở Bắc từ lúc còn thiếu niên, vào đây, làm việc, kiếm lấy mảnh chồng, rồi cứ thế tiếp tục làm việc và sinh sống. Đến lúc có con, họ mở những quầy giải khát nhỏ, dựng bên trong những lán nhà bên đường, có nhiều bàn và ghế để phục vụ khách đường xa dừng xe nghỉ ngơi. Bọn họ ít về lại quê cũ, nơi ba mẹ họ vẫn còn sống, có người hơn 20 năm rồi chưa quay lại làng mình lấy một lần. Thân con gái, lấy chồng xa, dặm trường, rồi con nhỏ líu ríu, kinh tế không được mấy, cứ mỗi kì ghe đánh cá của chồng ra khơi là lại ngóng chờ ngày này qua ngày khác, tuần này đến tuần khác. Họ sống ở trong Nam nhưng lại luôn mang những niềm tâm sự mà người phụ nữ Bắc nào cũng có. Khi không có ai để sẻ chia, họ đành hòa mồ hôi và nhịp thở cùng những cơn gió biển.

Mẹ tôi vừa bảo cứ mỗi lần tôi mang xe ra rửa ráy các thứ là y rằng lại có chuyện. Chắc mẹ đã ám ảnh với những chuyến đi của tôi mất rồi. Kì thực, tôi chẳng có dự tính cho một đích đến nào trong năm nay cả. Trước mũi tôi còn có bao điều mơ hồ. Khi sự tự tin của tôi đặt lên các ngả đường ngày càng sụt giảm, ấy là lúc tôi lại cảm thấy thất vọng về bản thân. Đó là một sự thất vọng nửa vời, phải, tôi biết chứ, vì sự thất vọng đó không đòi hỏi tôi phải cố gắng nỗ lực gì cả. Đó là một sự thất vọng cho có.

Chắc chỉ là để chứng minh chưa chắc những gì tôi muốn là tôi hoàn toàn có thể thực hiện được. Có lẽ tôi nên ở lại Hà Nội và làm việc như một con người bình thường, trả hết số dư nợ từ năm trước, kiếm đủ miếng cơm, dư thừa thì tích lũy cho tuổi già. Có lẽ tôi nên đi chơi như năm ngoái, nhè đúng Tết thì rời khỏi nhà, rong ruổi trên những vùng đất xa xôi. Tôi vẫn đang định ghé Myanmar, đó là một mảnh ghép trong cuộc đời tôi vẫn thấy thiếu. Dù không dám quả quyết, nhưng tôi cần hít thở không khí ở nơi đó, bản năng mách bảo tôi vậy. Có lẽ tôi nên chuyển tới Đà Nẵng như tôi đã muốn từ năm ngoái, đó là một nơi tôi nghĩ mình có thể tiêu sầu. Vì chẳng có gì ở đó có thể khiến con người ta tiêu sầu được cả. Một nơi cô đơn và buồn thẳm, có sông, có nhiều cây cầu, có biển, có vịnh, có đèo, có núi; nhưng tất cả chỉ có vậy. Không có ai, không có người nào, có lẽ đó là cuộc sống dễ chịu nhất tôi có thể toan tính được. Có lẽ tôi nên vào Sài Gòn. Có lẽ không. Kể từ lúc biết đến Sài Gòn, tôi không nghĩ rằng đó là nơi tôi muốn đến và muốn sống lâu dài. Có lẽ tôi nên ở Vũng Tàu. Tôi có thể ngửi thấy mùi Hà Nội ở thành phố đó. Một cảm giác thân quen khiến tôi thích thú khi loanh quanh những con phố. Hoài niệm phảng phất, thị dân tứ xứ; người Pháp hẳn đã bỏ lại cái chất trầm mặc của đội quân Lê dương tại những nơi này. Những người lính, từ nước này, từ nước khác, chung màu da hay không chung màu da, họ chiến đấu chẳng vì lý tưởng gì cả, họ chiến đấu chỉ vì họ đang cầm cây súng với những lưỡi mác trên tay. Những suy nghĩ của họ, liệu là đơn giản, liệu là phức tạp, liệu là những gì, khi họ nghỉ ngơi dưới bầu trời Hà Nội hay bên biển Vũng Tàu. Tôi chẳng thế nào biết được, chuyện của mấy chục năm trước, chuyện của mỗi con người. Quá khứ luôn thú vị vì tôi không thể biết chính xác nó diễn ra ra sao. Cả tương lai cũng vậy. Dự định có lẽ vẫn chỉ là dự định. Tôi còn cả một năm phía trước để diễn giải những dấu hiệu của riêng mình. Phải không?

 

Advertisements

I moon you, when muse wanes

 

Hôm trước, L bỗng nhắn hỏi tôi có mệt không. Tất nhiên là tôi kêu mệt ngay tắp lự. Tất nhiên là mệt rồi. Với đống suy nghĩ vậy. Còn em mấy tuần rồi có gì vui không. Chẳng có gì. Chỉ là những ngày cuối năm đang đến.

Năm vừa qua thật có nhiều điều để nói. Nhưng tôi xin giữ chúng như ý tưởng cho những câu chuyện sau này, nếu tôi vẫn giữ được niềm đam mê nhen nhóm ở chỗ nào đó. Còn chung chung thì năm nay tôi đi khá nhiều. Và hầu hết là tôi long nhong trên chiếc xe đạp của mình.

Những chặng đường tôi đã đi qua, dài có, ngắn có, mệt mỏi có, phấn khích có, chán ghét có, yêu thích cũng có; chúng khiến tôi có cơ hội để giết đi những khoảng thời gian đang sống của con tim và trí óc. Và thế thôi cũng là quá đủ.

Năm nay tôi dừng chân lại Đà Nẵng được hơn một ngày một chút. Nó khác xa so với kế hoạch ấp ủ ban đầu, dù tôi đã hỏi được chỗ thuê nhà, thì rốt cuộc, việc chuyển đến đó sống vẫn chẳng thực hiện được. Hết năm, tôi vẫn ở Hà Nội và cười.

Tôi có thất vọng không. Tất nhiên là có chứ. Không, không phải vì những dự định tôi không làm đến nơi đến chốn. Tôi thất vọng vì việc gạt ra ngoài cuộc sống những câu chữ hay ngôn từ trong hơn nửa năm cuối cùng cũng không làm tôi thấy khá hơn.

Ở một khía cạnh khác, tôi bắt đầu cảm thấy dễ chịu khi phải tham gia vào hệ thống phân phối tài sản của xã hội loài người. Đó là một sự thay đổi nhỏ, vừa buồn cười, lại vừa có gì đó mang tính then chốt. Rốt cục thì tiền cũng không phải một thứ đáng chán.

Tôi đang thèm một ly kem Ý năm viên ở Mũi Né và ngắm biển đêm. Và giá như có thể nói ra mấy điều tôi nghĩ bây giờ, như lúc đó, như lúc thừa nhận với L về sự giả dối của mình thì thoải mái biết mấy.

 

CSTD

 

Cuộc sống đang dần thay đổi. Những cái cây bị đốn chết. Những con cá bị ngộ độc chết. Người này lên làm thủ tướng. Người kia thôi làm tổng thống. Có những khoảng thời gian chẳng buồn làm gì. Có những lúc lấy công việc làm thú vui qua ngày. Một khi còn chưa chết. Chúng ta phải trải qua những ngày tháng hiếm hoi được sống. Được hít thở và thấy ánh mặt trời từ trên cao rọi xuống khi bình minh thức giấc, được thấy bóng tối phủ lên khắp mọi nẻo đường lúc hoàng hôn buông, được thấy thành phố sáng ánh điện trong đêm, được nghe người ta nói. Được nghe ai đó hát, được bày tỏ tấm lòng yêu thương đối với cái xã hội này và được cả xã hội mà ta hẵng còn mù mờ chuyện nhân tình thế thái ngoài kia mến mộ lại.

Chúng ta có còn là loài người không? Còn là một bầy thú quần cư trong thế giới tự nhiên rộng lớn này nữa không? Khi chúng ta ngày càng biến đổi. Chúng ta dần biến đổi cuộc sống của tự nhiên thành cuộc sống của loài người, rồi rốt cuộc biến nó thành cuộc sống của cá nhân riêng mỗi con người. Chúng ta chia cắt đất đai trên các châu lục bởi các đường biên giới quốc gia và hưởng thụ cả sự thái bình lẫn những cuộc chiến trường kỳ dai dẳng để giành giật từng mảnh đất liền trong đó. Một khi còn chưa chết. Chúng ta sẽ xây những ngôi nhà, sẽ đi trên những con đường, sẽ đắp những đập thủy điện, sẽ khai phá những mạng lưới đô thị, sẽ sáng chế ra đủ mọi thứ phục vụ cho cuộc đời mình. Ở bất cứ đâu. Chúng ta luôn có tham vọng biến đổi. Dù là những con sóng ngoài đại dương cũng không thể cản. Một khi còn chưa chết. Chúng ta luôn muốn đặt chân đến bất cứ đâu chúng ta còn chưa tới được. Dù là một mẩu đất nhỏ chỉ bằng cái mũi giày giữa biển cả trùng khơi. Tất cả đều là vì những lợi ích không thể chối từ đối với mỗi chúng ta trong quãng thời gian hiếm hoi được sống.

Những ngày này, tôi vui thú với công việc mới, dù còn lâu nữa tôi mới nhận được tiền lương cho hai tháng làm việc đầu tiên. Tôi vui thú được cũng phải. Vì tôi chẳng phải lo gì. Cuộc sống của một thanh niên Hà Nội sớm chẳng vừa, trưa chẳng vội, thảnh thơi, không vất vả, nó là thế. Tôi là một mảnh nhỏ trong cái tàn dư của một thế hệ khổ sở ở thủ đô. Vì vậy, tôi khổ chẳng được mà sướng cũng chẳng xong. Lưỡng lự giữa hai thái cực, cuối cùng tôi chọn cách biến đổi. Một khi còn chưa chết. Tôi sẽ chọn vui thú với thứ này, thứ kia. Tôi chọn cách giết thời gian còn sống của mình và vui thú với những phương thức mình tạo ra để phục vụ cho điều đó. Tôi chơi đùa với những khoảnh khắc hiếm hoi còn được tồn tại, lúc này, lúc kia, lúc thì ngắn, lúc thì dài. L đã sớm nhận ra được điều đó. L từng bảo tôi là một thứ gì đó dù rất thực nhưng lại phảng phất, chẳng thể nào nắm bắt dù có nhìn tỏ hình dáng. Một thứ trông là thế lại chẳng phải thế. Một mảnh đất chẳng có biên giới, nhưng cũng chẳng tồn tại bất cứ một cái gì khác nữa nếu đứng nhìn từ đây. Người ta chẳng muốn chia nhau sống trên một mảnh đất như vậy. Còn nếu đứng từ đây mà nhìn, anh sẽ là vực thẳm. Liệu có ai còn muốn tới?

Những ngày này, L cũng đang dần biến đổi. Tôi chỉ là không biết tham vọng của em tới đâu, khi mà chúng tôi cứ ở xa nhau mãi vậy.

 

Chuyện gì đã xảy ra

 

Hôm nay, tôi quyết định dừng viết Đ.T.H. Tôi nhận thấy rằng càng ngày tôi càng viết chậm đi. Từng trang giấy chỉ nhích lên chút một qua mỗi tuần. Tôi gặp vấn đề khi làm việc với các tư liệu. Tôi chán bản thân, với số kiến thức nền nhỏ nhoi, tôi khó lòng xây dựng được mọi thứ hoàn hảo. Nhưng khổ nỗi, tôi lại là một người tiểu tiết. Nên là khi muốn làm điều gì đó, tôi luôn muốn làm sao cho tốt nhất, từ cái to cho đến cái nhỏ, cho đến cả những thứ lặt vặt đi kèm. Điều đó khiến cho tôi phải tra cứu khá nhiều khi viết những tháng gần đây. Thế mới biết, càng dấn thân vào sâu, càng có nhiều thứ tôi cần phải trau dồi, tức là phải học, học thực sự ấy chứ không phải là học hỏi qua quýt, học để biết vậy, và nữa là cần phải trải nghiệm, phải thấy. Tôi chủ yếu lưu giữ những tra cứu, lượm lặt của mình trong một danh mục mà tất cả các mục đều ngang cấp với nhau. Và chúng nó bắt đầu trở nên dài thườn thượt, rối rắm, lạc loạn, khi lượng kiến thức tôi cần xem tới được bổ sung vào đống danh mục đó càng lúc càng trở nên nhiều không kể xiết. Trí nhớ của tôi đối với những thứ ngắn hạn vốn không được tốt. Sau khi chắp nối các mắt xích lại với nhau, tôi cho thế là xong và quên bẵng đi làm thế nào mà tôi lại có thể liên kết tất cả bọn chúng lại như thế. Đến chừng khi một mẩu xích nào đó bắt đầu lỏng lẻo. Tôi chỉ còn biết đần mặt ra tự hỏi, làm thế quái nào tôi biết đến cái thứ này và tại sao tôi lại chọn bày biện cái đống của khỉ đấy ở đây vậy. Thế nên, điều tất yếu xảy ra trong thời gian rồi là tôi cảm thấy khó khăn để có thể tiếp tục làm việc trên mớ hỗn độn giờ đây đã chình ình thành một vạt rừng bí ẩn mà tôi đã mất đi khả năng gọi tên bất kỳ loài thực vật nào bên trong nó.

——– Hắn ngồi đó, trũng thân hình trên khung hàng rào gỗ duy nhất sót lại, mà cùng với nó, có hàng trăm mớ dây kẽm gai uốn vòng, đan xen chằng chịt, hợp thành một vành đai cao gần mét rưỡi bao quanh lấy khu đất nông trại rộng tới ba ngàn mẫu và ngăn cách nó với vùng đất hoang rõ ràng là còn trù phú hơn về diện tích, ở bên ngoài. Phía sau lưng hắn, cánh đồng ngô vừa thu hoạch hết bắp, như mất hết sức sống, lả đi, chỉ chờ nắng làm cháy khô hết mấy đám lá xanh nữa thôi, là cả cánh đồng sẽ hoàn toàn khịu xuống, trở thành miếng mồi ngon béo bở cho một đám lửa đỏ và lớp đất óng mỡ.

Franky tự cuốn cho mình một điếu thuốc lá. Hắn cắn nghiến một đầu trong khi đang dở tay tìm diêm quẹt. Hơi rít đầu tiên làm hắn quặn phổi. Mồ hôi và khói thuốc bết lấy mớ tóc đã ngả vài mảng muối tiêu. Chiếc mũ cờ-rích-kê kiểu Úc-đại-lợi trên đầu hắn ỉu xìu, thấm nhẫy hơi mồ hôi. Nó trở nên nặng hơn, trườn xuống, càng lúc càng bám chặt lấy bộ óc mà hắn hằng cho là ưu việt so với hết thảy đám đông mà hắn biết. Điếu thuốc rơi tàn được một nửa, thì cũng là lúc não hắn trở nên chuếnh choáng bởi hàm lượng ni-cô-tin đã quá nhiều so với khả năng hấp thụ của buồng phổi hắn trong hai năm gần đây. Nó rỉn ra một thứ dầu đặc có mùi hắc ín xuyên qua lớp da đầu, phết lên phần lót của chiếc mũ đang đội một lớp đen xì nhớp nháp.

Hắn thôi nghĩ đến những mạch máu và lớp da thịt nơi hốc mắt. Khi vứt đi nửa điếu thuốc còn lại, tâm trí hắn mông lung điều gì đó trong chốc lát, rồi thì hắn bước tới chiếc xe mô-tô dựng bên gốc cây bao-báp. Vừa ngồi lên xe, hắn liền khởi động máy, tiếng ống bô nổ đèn đẹt, nhả khói từng cụm. Hắn lao xe đi, cua nửa vòng, rồi thẳng theo con đường hướng ra phía thác Pam mà chạy tới.

Thay vì đến đúng thác Pam, hắn lái xe đến bên mép vực cách đó cỡ ba trăm mét, nơi con sông A-rút-xi-ni vẫn cuồn cuộn chảy cách cả trăm mét bên dưới, dù cho nó đã không còn thuộc địa phận của cao nguyên Mô-cátx nữa. Mỗi khi ở chỗ này, không hiểu sao, trí óc hắn luôn gợi tìm lời giải đáp cho một thắc mắc chẳng ai quan tâm, rằng tại sao con sông không thuận theo thế đất để tạo dòng, nếu xét về khoảng cách thì cũng chỉ còn mười hai cây số nữa là nó cũng sẽ tới được bình nguyên Ha-ma-quiu-lớtx bên dưới, vậy mà, nó lại đột ngột đào xuyên qua cả chục lớp đất đá, xẻ nên một rãnh sâu kỷ lục lên đến tận một trăm mười mét bắt đầu ngay chỗ thác Pam, rồi đổ hết lượng nước qua lối đó, và dù đã giảm độ cao đi kha khá, sau khi bổ nhào xuống từ trên đỉnh, những khối nước khổng lồ đục ngầu xuất phát từ chân thác Pam vẫn tỏ ra là những tay phiêu lưu vội vàng hết cỡ, bằng chứng là chúng vẫn phăng phăng ào ạt trên con đường tiến tới những vùng đất thấp hơn bên dưới, gây nên một sự huyên náo ầm ĩ cho những ai đang phải đứng gần. Nguyên nhân của sự kiến tạo địa vực sông A-rútx vẫn còn là một điều bí ẩn với tất cả mọi người cho tới ngày nay. Không có nhà địa chất học nào, kể cả người ở trong vùng, nắm bắt hay tìm hiểu được chút ít, cũng chẳng có ghi chép xa xưa nào đề cập đến. Những người già nhất còn sống trong ngôi làng Môn-rô gần đó, hay ở thị trấn A-ráp cách vài dặm mà Franky biết và đã nói chuyện, chỉ là đám con cháu của mấy tay khai khẩn đất hoang, chân tay thì mạnh mẽ nhưng lại thiếu đi ý niệm về khoa học giáo dục; đời họ không hề biết chữ và cũng chẳng lấy đó làm phiền; họ cũng chẳng phiền khi những thế hệ kế cận tiếp tục giống họ, tuy họ biết nhiều thứ đổi mới đã và vẫn đang diễn ra liên tục không ngừng. Vì vậy mà ở trên khắp miền đất cao nguyên Mô-cátx đất đỏ phì nhiêu này, không tồn tại một sự uyên thâm trí giả nào mà hắn, Franky, có thể viện cầu đến cả. Bên đống lửa, vào những đêm ngập tràn sự lạnh giá do gió tuyết từ dãy An-đétx phả xuống, những câu chuyện ôn lại giữa những người già, những lời kể cho lũ trẻ, khi mỗi người đều đang cuộn mình trong một chiếc chăn ấm có thêu những bông hoa mặt trời rộ nở, hầu hết toàn là những bài học dạng ngụ ngôn, rồi vài kỷ niệm nông nổi được thêu dệt, hòa lẫn sau đó là những kinh nghiệm xương máu của cha, mẹ họ hoặc của chính họ thời trẻ, khi vật lộn với biết bao cánh đồng, biết bao vụ mùa canh tác, khi phải du nhập mấy dây chuyền nông phẩm sử dụng máy móc hay khi so kè lợi tức với những tay thương lái xương xẩu miền xuôi.

Thật là những biểu hiện của cuộc sống tầm thường, Franky đã luôn nghĩ thế chỉ sau một thời gian ngắn đặt chân lên cao nguyên Mô-cátx và quen dần với cuộc sống mới tại nơi này. Hắn vốn chẳng ưa gì ai; ngay khi đã hiểu thấu được mọi người ở đây, cẩn thận xếp đặt từng người một vào các nhóm trên thang phân loại đẳng cấp của riêng hắn, hắn trở nên sẵn sàng thóa mạ tất cả bọn họ, vào bất kể giây phút nào hắn phải bỏ công ra để thiết lập một mối tiếp xúc ngôn ngữ thành tiếng với họ, lúc gặp nhau trên đường, lúc làm việc chung ở cánh đồng ngô, lúc sinh sống tại khu nhà tập thể dành cho công nhân nông trại của Đôn Giôn, dù cho đó có là phụ nữ, trẻ em, hay những lão già, tệ hơn nữa là những tên mọi đen và nhất là cặp vợ chồng Đô-rít. Nhưng hắn chưa bao giờ làm thế, chưa bao giờ sổ toẹt mọi ý nghĩ trong đầu hắn ra trước mặt bất kỳ ai trong làng. Hắn đến đây là để tìm cách nén chặt lại những cảm xúc có thể nói là xấc láo, hoàn toàn đối chọi với bản chất của một quý ngài như hắn. Hắn đến đây để xóa bỏ đi quá khứ xấu xa của mình. Dù từng nghi ngờ bản thân, thì cho đến giờ phút này hắn chưa bỏ cuộc. Hắn là người duy nhất nắm được cái mục đích rõ ràng cho tương lai của hắn. Thỉnh thoảng, trái tim hắn bỗng nổi cơn thèm khát. Thế là hắn phóng ra đây, dựng xe cách đúng một khoảng tám mét, rồi đi ra sát bờ vực hòng nghe rõ tiếng gầm gào vang vọng của con sông khi lao qua một cái ghềnh đá ngay bên dưới. Hôm nay, hắn chẳng trông xuống những dòng nước xối xả như thường lệ, thay vì thế, hắn nhìn quả bóng mặt trời đang bắt đầu chui vào giữa những mỏm núi sắc nhọn đằng xa và cam chịu cho chúng đâm thủng. Hắn có nên nhảy xuống, hắn tự hỏi mình vậy. Hắn từ tốn độc thoại với bản thân thêm vài ba câu nữa. Hắn liếm môi, cái dư vị ngọt ngào thẳm sâu trong tiềm thức của hắn chầm chậm kéo tới. Hắn lấy thuốc lá và giấy cuốn trong bọc ni-lông nhỏ lấy từ túi áo để cuốn một điếu thuốc mới. Khó khăn lắm hắn mới quẹt được lửa châm cho điếu thuốc giữa những cơn gió lộng vào lúc chiều tàn. Hắn tự nhủ với bản thân nhất định sẽ làm được: “.. phải quên được nó đi.”. Hắn hít một hơi dài, nhắm mắt và khởi sự công cuộc trốn chạy. “Con sông”, hắn mở mắt, “tại sao chẳng một ai quan tâm đến sự giận dữ của mày cả, ngoại trừ tao?”.

 

Đi đến một nơi nào đó, cũng nghĩa là sẽ xa rời một nơi nào đó

 

Trở về Hà Nội. Không giống như những lần trước đây nữa. Lần này, tôi không có lấy một chút cảm xúc. Tôi không còn cảm thấy yêu Hà Nội. Không còn cảm thấy yêu thành phố quê nhà. Mọi mối thương tình dù sao vẫn còn đó. Nhưng những sợi tơ vương chẳng còn mảy may rung động xao xuyến khi được kết nối lại. Tôi chẳng còn ngửi thấy mùi vị thân thuộc gắn bó con người tôi với mảnh đất này. Khi trở về Hà Nội. Tâm trạng tôi trở nên khác lạ. Đó là tâm trạng của một người Hà Nội, bỗng coi Hà Nội chỉ là một điểm dừng chân trên chuyến hành trình dài vẫn đang tiếp tục. Đó là tâm trạng của một con người nhỏ bé vốn biết rằng, việc đi đến một nơi nào đó, cũng nghĩa là sẽ vô cùng luyến tiếc khi xa rời một nơi nào đó, nhưng lại không đừng được những suy nghĩ về ngày mai, khi tỉnh dậy từ lúc sáu giờ sáng, mình sẽ khởi hành đến thành phố tiếp theo ở đâu, theo lối nào, sẽ phải đi hết bao nhiêu cây số. Đó là tâm trạng của một kẻ đã quên khuấy mất vẻ đẹp nguyên sơ của mùa thu Hà Nội qua bao năm tháng. Của một kẻ rồi sẽ bỏ lại và sớm quên đi dáng hình em trong trí nhớ. Em có biết không? Em biết đấy.

 

Nếu có lúc nào đó anh nhớ Hà Nội và em nhất trên suốt chặng đường đã đi qua, thì đó chính là khoảng thời gian ngồi một mình bên biển Vũng Tàu, giữa hàng dừa cao vợi, ngày cũng như đêm cố với mình tới ngọn nguồn của những cơn gió biển ngoài xa. Chẳng có ai ở cạnh. Chỉ nghe ở dưới kia, khi vạt chiều vừa buông, biển khơi ào ạt tấp những con sóng vỗ lên bờ kè, đưa đi đẩy lại nỗi day dứt mà bất cứ sinh vật nào sống trên đất liền này cũng muốn trở về bên cạnh để tìm cách xoa dịu, an yên lòng dạ của nó, nhưng cuối cùng lại chẳng có thứ gì vừa vặn khỏa lấp, mà khiến nó nguôi ngoai được cả. Mặt trời thôi lấp lánh ánh trắng lên mặt nước. Những con tàu vẫn ngậm chặt mớ mỏ neo ngoắc sâu vào đáy biển cho khỏi bị cuốn đi xa, nếu như chúng có lỡ mộng mị chu du trên chuyến hành trình viễn tưởng nào đó trong giấc ngủ ngày. Anh ngắm hoàng hôn và những dãy dài bọt sóng, dường như tỏ tường được mọi sự cô đơn của loài người trong thoáng chốc, nhưng giây phút đó qua đi rất nhanh, tựa hồ bị cướp mất. Anh rồi trở về với những ô nhịp thinh lặng mở đầu những bản nhạc buồn bã. Muộn phiền quẩn quanh khi nhìn hình bóng mọi người ngang dọc trên đường. Anh đã mong rằng mình chẳng có phương cách nào để quay lại Hà Nội nữa, giữa cái lúc nhớ em đến vậy. Rốt cuộc, anh đã muốn theo đuổi điều gì khi đọc xong lời em nhắn gửi. Để đi đến một nơi nào đó, phải chăng cũng là cần dũng cảm để xa rời một nơi nào đó. Anh có biết không? Anh thật lòng biết chứ.

 

ÂM 12 ĐỘ

 

Tự nhiên buồn buồn. Không biết nói gì. Kiếm được bài Gravity của Coldplay nghe chơi, cuối cùng lại nghiện. Giai điệu bài hát cứ kéo dài bất tận. Muốn dừng cũng không tài nào dừng được. Nó đã trở thành một hiện tượng chi phối tâm tư suốt cả cái đêm không ngủ.

Đến sáng, tìm cớ để lang thang ngoài đường: đi rút tiền, đi mua đồ, đi gửi đồ; vội vàng nhận ra là ngoài đường đông quá. Con phố thân thuộc hai mươi mấy năm sinh sống có lẻ, giờ sao mà chật như nêm, rặt toàn những gương mặt xa lạ trôi nổi giữa hai dòng chảy chậm rì của xe cộ, kẻ muốn đi ngược, người cố chạy xuôi, chẳng ai chịu ai, dù mỗi bên số phận đã được phân định rạch ròi, thì với dã tâm ương bướng, con người ta vẫn muốn gây hấn với nhau, ghìm kẹp nhau mỗi khi có cơ hội.

Đã hơn 8 tháng mình không đi làm, không tham gia vào guồng máy lao động sản xuất của đất nước, không bon chen với thời gian biểu sáng 8 giờ đến công ty, chiều 5 giờ được quyền nhấc mông chuồn về nhưng vì lý do tắc đường nên toàn cố hoãn đến 7 giờ tối mới thèm chạy trốn khỏi những chiếc màn hình máy tính để quay lại với thế giới tình yêu đầy mộng tưởng ngoài kia, khi khói bụi đã lắng xuống và trời đất không mảy may ồn ào nữa. Đây là lần 8 tháng thứ hai mình có cả một quãng thời gian rảnh rỗi vô bờ bến để cóp nhặt và thử thách từng mảnh nhỏ trong cái ước mơ to lớn của cuộc đời. Tuy nhiên, có lẽ như thế chưa đủ. Mình vẫn thất bại. Khi đứng trước H., mình vẫn là một kẻ thất bại hoàn toàn, dù cho cố gắng thế nào. Chẳng thể dứt hình ảnh đấy ra khỏi tâm trí, với mối dày vò của người thua cuộc, chính H. đã khiến mình phải tìm đến những ca từ của Gravity để nguôi ngoai đi những ý nghĩ tiêu cực chất đống trong tâm can. Suy cho cùng, có lẽ mình nên kéo dài hạn định 8 tháng ra thêm một chút nữa. Chỉ một chút nữa thôi.

Mình có một cơ hội để gây hấn với người khác, và mình đã tận dụng nó. Mình cảm thấy xấu hổ liền sau đấy, nhưng chuyện đã không thể cứu vãn. Vì thế, mình chuyển sang việc nghĩ về thời tiết và vài thứ phù du như một cách để lảng tránh tội lỗi.

Thời tiết năm nay khá kỳ quặc, nhưng lại phù hợp với sự bất ổn của toàn cầu trên mọi khía cạnh. Qua mỗi năm, mùa đông, giống như một vận động viên điền kinh ngày càng luống tuổi, chẳng còn được trợ cấp theo lối trọng vọng nữa, nhưng vẫn cố miên mải trên những chặng đường vươn tới thành phố nơi mình đương sinh sống – Hà Nội, ừ thì, nó vẫn đến được đích, vẫn khiến cho nhân dân Hà Nội phải than thở mỗi khi giá lạnh sà xuống trong đêm, nhưng mình cảm tưởng rằng nó sẽ chẳng bao giờ có được những cú cán đích huy hoàng như những năm xưa cũ. Âu cũng là thế, chẳng ai giữ mãi được vinh quang. Nhưng vinh quang lại là một thứ đẹp đẽ mà ai cũng muốn giữ. Giống như những hành tinh chẳng thể nào quay mãi. Tính tình mỗi đứa cũng khác, có đứa quay nhanh, có đứa quay chậm. Nhưng nội tại thì cái sự quay nó vốn là một thứ vô cùng đẹp đẽ, nên tất thảy, thì hành tinh nào cũng muốn quay, chúng quay quanh Mặt Trời, và quay cả quanh chính chúng nó.

Mình đang định lấy bối cảnh ở San Marino nằm gọn lỏn trong lòng nước Ý làm nơi kết thúc Đ. T. H. Và, cho dù vùng đấy ít được mùa đông ưu ái như những xứ khác thuộc vùng núi Alps, thì mình vẫn muốn nhấn chìm nó trong cơn mưa tuyết dữ dội và lạnh giá nhất mà mình biết. Mình muốn để H. trơ trọi ở đấy. Nàng sẽ đóng vai một bóng đen ma quái trên nền tuyết trắng, cứ khi đêm đến lại thảng thốt gào rú, vang thứ âm thanh não nề trần thế ra tới tận bờ biển Adria, từ sâu thẳm bên trong lòng ngọn tháp canh Cesta đã rúm ró và khô mục bởi thời gian. Mình sẽ hòa bình minh với đêm đen lại làm một. Tiếp theo, mình sẽ vặn dòng chảy của nhiệt kế xuống đúng âm 12 độ Celcius. Rồi thì, tất cả những việc mình cần làm chỉ còn gói gọn bởi hai chữ chờ đợi. Mình không biết mọi thứ sắp đặt sẽ đi đến đâu. Nhưng được cái là mình sẽ không dừng lại bây giờ.

 

CẢM HỨNG VÔ CỰC DỌC (H.I.)

 

Sáng. Dậy. Có một khoảng im ắng. Rồi tâm trí chan chứa suy nghĩ. Toàn ý tứ không đâu, chúng chảy vội vào một cái hồ. Cái hồ rộng ra. Đoàn lữ khách càng lúc càng nhỏ tý lại. Dần thì bé tin hít đến nỗi trôi tụt qua đầu xỏ chỉ của một cây kim khâu cỡ số chín.

Những ngày mới vẫn cứ nối tiếp nhau xuất hiện, giống như con mắt cứ chớp nhắm chớp mở liên hoàn. Thời gian là thế, chưa bao giờ biết mệt mỏi, đều đặn chạy những vòng quay, răm rắp miệt mài suốt năm này tháng khác. Bên cửa sổ; ngoài kia, cả khối nắng ban mai vừa kịp tỉnh giấc, bắt đầu tưới ánh vàng kim dài lê thê lên từng cái nóc nhà một. Chảo trăng sáng lóe đêm qua, đâu, đã biến mất hẳn, chẳng còn lại lấy bất cứ dấu vết nào. Những con cú đã thôi ‘cờ-rúc, cờ-rúc’ từ khỉ khi không biết, hoàn toàn kỹ càng lẩn tịt mặt trong các lỗ đen vũ trụ được giấu kín sau bức màn mây và làn da trời căng phồng cơn giông tố rồi chắc sẽ sớm đến trong tuần; chỉ có mỗi đám cành lá mảnh mai đâm xiên vào khung cửa sổ là bỗng dưng rạng rỡ cõi lòng, khấp khởi xanh rì rung rinh đón gió sớm.

Những cơn gió thôi thì cũng chỉ tạt qua mấy chốc, sau, chúng đi khuất, tất cả lại trở về với yên lặng.

Tôi nhớ những con phố. Tôi nhớ những khuôn mặt. Tôi nhớ những dãy nhà mái bằng đầy dây phơi, đầy kẹp áo, nhớ những chậu cây tua tủa cỏ mai; nhớ những mốc meo và rêu đen cháy khét lét bám kín lấy dãy gạch trơ vữa được sắp sẵn thành bờ tường của một căn nhà cấp bốn nhỏ nhắn, hoang chát vị xưa. Bóng nắng bỗng lên quá đỗi, và tôi không thể ngờ rằng cái sự đói nó có thể réo rắt tâm hồn con người lạ lùng là thế. Tôi đâu biết những đứa trẻ lang thang chúng sẽ thế nào; khi không có gì để bỏ bụng, chúng ứa ra hàng dài nước miếng ngay từ ngoài này, ngay lúc trông vô cửa tiệm người ta đang bán những đụn xôi nóng hổi, thơm ngào ngạt mùi mỡ lợn xối chảy dài như mật, và mùi vò đỗ xanh xay mịn, nắm chim, thái lát mỏng y chang mấy tờ vé số. Nhưng, thì, chúng chỉ im thít đó đứng coi thôi; một lúc; chúng nuốt tất cả mọi thèm muốn đầy đặn khổ sở vào trong cái bình chứa ọt ẹt chúng ôm chặt dưới lớp áo phông bẩn, phần nhiều rìa áo đã bị bung chỉ hoặc tơ sợi. Một lúc. Chúng như lay lắt với những chiếc rổ nhựa xếp đầy đủ mọi chủng loại sing-gum thơm miệng, mấy bao thuốc lá và những chiếc bật lửa bên góc đường; một lúc, có đứa lại thẩn thơ chơi đùa với bầy chim sâu chốc chốc lại sà từ hàng cây nào đó xuống dưới đất mổ những mẩu vụn rơi lại từ những chiếc bánh mì chẳng hề có tý thịt nào mà tất cả lũ chúng nó đang ăn. Bọn trẻ đẹp trai, da không rám nắng, chỉ bị đen vì mồ hôi, vì bụi đất và vì cái sự nước non tắm táp. Nhưng thật sự thì trông chúng tội nghiệp, khi chúng khiến cho người ta cứ phải luôn nghĩ rằng góc đường nhỏ bé ấy sẽ là ngôi nhà đời đời vận kiếp của chúng. Tôi đưa cho chúng nửa chai nước La Vie, thứ duy nhất chúng thôi từ chối, để chúng uống trôi đống bột mì; một lúc. Khi tôi rời đi thì đám trẻ cũng đã bắt đầu chuyển sang trò chơi với bộ bài giắt từ đít quần một đứa. Tôi nhìn bọn chúng nó đứa nào đứa nấy nấc cụt, bỗng chốc sướng rên trọ trẹ hoài những từ ngữ lấp lánh niềm vui chẳng tài nào tôi hiểu nổi; một lúc; lần cuối. Tôi nhớ trời xanh. Tôi nhớ biển. Tôi bỏ quên đi những cặp mắt trẻ thơ,  bỏ quên đi những nụ cười con nít.

Tôi nhớ Clo-jie tha thiết và bồn chồn, xen lẫn thói đểu giả thường thấy, khi con người ta tự nhiên nhắc nhiều về nỗi nhớ. Tôi chạy đua với Mặt Trời tới tận bờ bên kia của tinh cầu Mặt Đất. Chú Trời ta thắng; với vẻ tươi rói, chú cười đắc chí nhảy ùm xuống biển vũ trụ xả hơi hồi sức, không lãng phí lấy bất cứ một giây phút nào bùi ngùi cho tôi cả; chú ta thực tình thỏa mãn. Tôi thua và cảm giác cay đắng; nó thật tồi tệ; nỗi thất vọng lộ rõ như kiểu ra sức bóp lấy bóp để cánh hoa cúc bằng ngón cái của bàn tay phải và ngón trỏ của bàn tay trái cho kỳ được mà lại chẳng được; là rất tồi tệ, thế, tôi đi nhảy; cũng đi nhảy, nhưng là nhảy xuống vực sâu. Tôi rơi thân xác xuống một thung lũng đầy những hạt vàng và chính nhờ có chúng mà tôi chẳng chết. Bọn hạt vàng lửng lơ, lơ lửng, lưng chừng vuốt ve bắp chân tôi mỗi bước tôi đi, và cả cổ tay tôi khi tôi cố mấy lần cúi xuống thử tóm lấy một đám, nhưng vì chúng biết cách luồn trốn qua khe kẽ ngón tay rất nhanh, nên thành thử tôi toàn tóm hụt. Chúng, chao ôi thì, có mùi căn bếp cũ của bà ngoại tôi nơi xóm Dầu, rất đậm; tôi không hiểu sao; là mùi của chiếc kiềng ba chân khi bị đám củi khô ngắc sùi bọt lửa hun cháy. Tôi thường đứng đó coi bà ngoại tôi nấu ăn cho bữa trưa, chỉ khi nào tôi sớm thua sạch đống bi ve của mình vào ban sáng và trên nhà chẳng có ai chơi, thì tôi lại chạy xuống bếp coi bà tất bật nấu nướng và để hửi mùi cả đống thức ăn thơm phức mùi hành; đủ loại. Tôi đứng bên chiếc rương gạo đặt trên nóc một cái bể vôi ở góc bếp mà ngóng nhìn các thanh củi từ to đến nhỏ biến mất hút vào trong lòng chiếc kiềng sắt, chỉ còn lại bụi tàn lép bép bay ra, và cảm xúc tựa hồ vô cùng thích thú. Rồi cả những mũi lửa ấm nóng và đôi chút điên rồ nữa chứ, chúng cào cấu những cái đáy nồi đen đặc, thỉnh thoảng bùng lên, đâm xiên lên thành nồi, khiến bồ hóng chảy ngược từ đít nồi lên tận nắp. Cứ thế, chúng biến ra một thứ sống động nhiệt thành, một ngọn nguồn mà từ đó lan tỏa biết bao mùi hương; mùi củi mục, mùi mùn cưa, mùi gỗ bào, mùi của những miếng thịt dày bì sôi trong mỡ, mùi của chiếc nồi gang, mùi của bàn tay bà, mùi đũa cả, mùi tường vỡ và mùi chiếc kiềng sắt; những thứ mùi nồng nàn của căn bếp cứ thế quện đi quện lại với nhau thành một vết dài trong dòng ký ức.

Bọn hạt vàng, chúng, kìa, cũng đang nhảy nhót như những ngọn lửa đỏ trong căn bếp cũ nay đã không còn. Hỡi ôi, chúng dường như bị phấn khích bởi hình dạng hai cái đầu gối của tôi hay sao ấy mà liên tục nhảy lên hòng va, chạm, húc, tông, rờ, bắt được vào hai đứa nó. Chúng nhảy lên từ lưng chừng không khí, mà không cần lấy một điểm tựa; như thể có một chiếc đệm hơi trong suốt hoặc vô hình cứ sóng sánh dập dềnh đưa đẩy chúng bắn lên từ bên dưới bằng thứ lực đàn hồi vô cùng dễ chịu; thật buồn cười. Sự phấn khích đó như một thứ tín hiệu mời gọi nhanh chóng lan tỏa ra khắp xung quanh. Bọn hạt vàng ở phía xa bắt đầu nô nức kéo tới. Chúng nhảy, tạo thành những cơn sóng nhẹ. Mỗi đợt, mỗi đám hạt vàng như thế tạo nên một lớp sóng, lớp này đuổi theo sau, chồm lên lớp khác; bọn hạt vàng này thuận theo đà nhảy lên trên bọn hạt vàng khác; những con sóng bé tý ban đầu gợi lăn tăn như mặt nước những đêm trăng tỏ dần biến thành những con sóng vừa vừa, rồi chúng trở nên lớn hơn nhiều khi đến được gần chỗ tôi đứng. Tôi, lúc ấy thì, như một hòn đảo hoang trơ trọi giữa biển trời mà tám phương bốn hướng đều có những đợt sóng là bọn hạt vàng ào ào xô tới. Bọn hạt đến sau lũ lượt chen lên bọn đến trước, đẩy hằng hà sa số bọn đến trước nữa xuống phía dưới, càng lúc càng sát hơn với mặt đất. Chính lúc ấy, tôi bắt đầu nghe thấy những tiếng lụp bụp nhỏ, kèm theo sau đó là những sợi ánh sáng leo lắt chui lên từ phía dưới lòng đất, xuyên qua những lớp hạt vàng bên trên và chui tọt vào vũ trụ. Rồi những tiếng lụp bụp trở nên rõ ràng hơn, chúng không chỉ đến từ dưới mặt đất mà còn xuất hiện ở trên không, ngay giữa những con sóng; không phải, chính xác là ở giữa những chỗ mà hai con sóng hạt vàng đến từ hai ngả va mạnh sườn vào nhau. Tiếng bụp nhỏ, tiếng bụp to, nổ rền như tiếng bắp rang bơ đang chiên trong lò vi-ba. Tôi thấy lần lượt bọn chúng: một hạt, hai hạt, …,  rồi nhiều hạt nữa, cả ở gần, cả ở xa, ở tít xa, bỗng nhiên khựng lại giữa dòng chuyển động của các con sóng, ngay giữa không trung, liền đó thì tự biến đổi. Bọn hạt vàng ấy, chúng rung nhẹ, trương mọng lên từng khắc một rồi phát sáng y như bụng của con đom đóm; rồi khi bọn nó to đến cỡ hạt sen và rung lắc dữ dội nhất thì nhất loạt nở bung ra, những sợi sáng giấu kín bên trong văng đi kéo thành những vệt sáng lóa, gấp khúc trắc trở như sọc chớp nhá hình trên nền trời đen kịt lúc đêm giông. Một, hai giây sau,  bọn sợi sáng ấy thay phiên, nối tiếp nhau tót phát nhảy ngược lên phía tầng không, từng mét, từng ki-lô-mét, rồi hàng trăm ki-lô-mét, thậm chí hơn nữa, hàng trăm nghìn ki-lô-mét. Mục tiêu của chúng, phía cao trên kia, thôi, đã quá rõ. Chúng thực tình muốn vươn tới những ngôi sao xa xăm cách Mặt Đất đến cả triệu năm ánh sáng trong biển vũ trụ tăm tối kia ư. Tôi bàng hoàng bởi cảnh tượng kì ảo đó, bàng hoàng bởi những ước vọng của bọn hạt vàng sau khi, có thể là thế chăng, chết đi ấy. Bọn hạt vàng, chúng chẳng ngần ngại chạy đến, đuổi theo niềm đam mê nhất thời, dù cho có phải, ừ, tôi sẽ gọi nó là, hy sinh. Và dù cho có phải hy sinh, chúng cũng không hẳn thất bại. Chúng chỉ là không ngừng di chuyển. Chúng luôn có một cái gì đấy để theo đuổi, lúc này hay lúc khác. Chúng cũng đi nhảy, thế, nhưng sẽ nhảy đến nơi trái tim cùng tình yêu của chúng tồn tại.

Hân bỏ chiếc túi xách lên bàn ở một vị trí hơi xa với chỗ ngồi, và nhờ Rem pha cho em một cốc sô-đa lạnh; em nhìn quanh, rồi quay lại đáp lấy ánh mắt gợi chuyện của Rem với một nụ cười chết khát. Không khí hội quán hôm nay khá trầm tư và, chút gì đó u uất; theo lịch thì là đến buổi của S., nhưng cậu ta từ hôm trước đã phủ quyết quyền chủ trì mọi hoạt động, vậy nên mọi người quay qua làm những việc thường ngày còn dang dở; ai cũng chú tâm hết sức với tác phẩm của mình nên chẳng nói lời nào với nhau suốt hai tiếng rồi. Những khối suy nghĩ chất chứa sáng tạo đam mê cũng vì thế mà được sản sinh ra không ngừng, bao trùm lên khắp các góc tường và cả sảnh ‘sân khấu’. Riêng tôi thì lại thu lu ở cái chỗ một bên là chậu hoa mười giờ, hiện tại chỉ toàn cỏ lác sinh sôi, còn bên kia tất nhiên sẽ có một chiếc bàn nhỏ, để đọc báo. Chẳng phải là tôi muốn dò xem mấy bài viết đã gửi lâu lắc của tôi có được đăng không, mà chỉ thuần túy coi tin tức. Tôi đọc qua hết tất cả những trang báo cũ, cách đây mấy tuần, rồi thậm chí là hằng tháng trước, nhưng không có lấy một mẩu tin nào tôi muốn thấy. Cả một năm qua thú thực tôi ít xem báo hay các kênh truyền hình, nhưng chí ít cái tin tôi muốn thấy, nếu mà có, chắc chắn nó phải là một tin giật gân sẽ khiến mọi người bàn tán không ngơi; hiển nhiên, tôi cũng sẽ không bỏ sót thông tin nào như thế. Vậy mà… Tôi đang mải nghĩ vài thứ liên quan đến Franky, thì Hân tới đặt cuốn Vietnamese Costumes through the Ages xuống mặt bàn. Tôi nhìn lên thì chỉ kịp thấy em nhún vai một cái rồi bước trở lại chỗ quầy bar. Định nói với theo câu cảm ơn em đã cho mượn mà lại thôi, tôi cầm quyển sách lên, giở lấy vài trang, ngắm nghía những bộ trang phục từ xa xưa tới thời cận đại của người dân mọi miền trên đất nước mình. Hình ảnh của chúng trong sách đa phần sắc nét, kèm mô tả chi tiết chất liệu, đường may, đôi khi có bổ sung ý nghĩa hoặc diễn giải một vài dữ kiện văn hóa lịch sử gắn theo làm tôi phút chốc trở nên hứng khởi mà quên mất đi những ám ảnh giết chóc tồn tại trong đầu lúc nãy. S. hình như đang để ý tôi, nhưng khi tôi quay sang thì cậu ta lại cắm cúi viết. Có một cuộc gọi đến hội quán, chiếc Oa-phen 48 đời cổ lỗ sĩ của Đức đặt ở góc trái trên mặt quầy bar kêu leng reng náo động mấy hồi liền không dứt; thường thì nhóm chúng tôi chẳng bao giờ ngóng chờ bất cứ cuộc gọi nào đến đây cả: chiếc Oa-phen ấy chuyên dùng để gọi đi, chuông chỉ đổ vào những lần Rem hoặc M. gọi thử để kiểm tra một cách máy móc rằng chiếc điện thoại hẳn vẫn hoạt động ngon lành; và theo truyền thuyết tôi được nghe kể, lần đổ chuông có nghĩa duy nhất mà nó thực hiện thành công đã xảy ra cũng lâu lắm rồi; đó là khi tay cung cấp rượu đời đầu tiên cho quầy bar gọi đến để giới thiệu một loại rượu mới từ Phần Lan mà gã đó vừa kiếm được nguồn cung và bắt đầu đứng ra phân phối. Có thể đây sẽ là lần có ý nghĩa thứ hai chăng; anh chủ xị của hội quán tên M. phải đợi đến hồi chuông thứ sáu mới chạy ra bốc máy chào hỏi, trong khi vẫn đeo nguyên đôi găng tay nặn tượng, nhưng rồi đầu dây bên kia chẳng lên tiếng. Được một lúc thì M. cúp máy và lầm rầm ra vẻ bực mình trên suốt quãng đường quay lại đằng ‘đảo dừa’. Chẵn mười phút sau, chiếc Oa-phen lại leng reng âm sắc của tiếng chuông điện đã han gỉ bởi không khí ẩm thấp từ đợt xuân thì đầu năm. Tiếng chuông đôi phần bất chợt khiến ngay cả Hân cũng phải nhíu mày. Lần này chuông reo đến lần thứ hai thì Rem đã bắt nghe luôn, giả tiếng “A-lô” tò mò và bình thản. “Ha-lô…”. “Alors?”. “Moshi-moshi!”. “Chịu”, Rem hắng giọng hồi đáp cho Hân, tôi, và S. biết sự tình; tôi cũng nghĩ là sẽ lại vậy thôi; Rem bỏ ống thoại đặt cái cạch về vị trí cũ, kèm một tiếng ‘tinh’ rất nhỏ ngân theo. Từ lúc đấy, tôi cứ nghĩ tiếng chuông sẽ tịt hẳn, thì cho gần đến giữa trưa, đợi ngay lúc P. rời khỏi ‘xưởng bạc’, chiếc Oa-phen-sờ-prếc-sơ đời mã 48 của cụ cố Hít-le tiếp tục réo vang lần thứ ba. P. vừa khép xong cánh cửa, bất chợt hoảng hồn vì thấy mọi ánh mắt đều đang đổ dồn như tưới keo dán vào mình:

“Sao cơ?”.

P. cúi xuống chỉnh lại nếp chân váy bị cuộn lên tý chút.

“…!?. À,”, sau thoáng chốc vẫn băn khoăn, P. như sực hiểu ra điều gì, bước đến góc quầy bar đưa tay chuẩn bị nhấc ống nghe lên. “…, này, các vị thật quá đáng đấy nhé. Tay vẫn còn run này.”.

“A lô, Hội quán Rívièr xin nghe.”

“Vâng”. “Franky sao?”. “Được rồi. Chờ chút nhé anh.”.

“Đây. Có một nàng Franky nào đó đang chờ. Mà cô ấy lại chẳng biết tên người muốn gặp là ai, lạ thật, có anh nào muốn tâm tình với Franky không em làm mối cho nè.”, P. cười bông lơn với cả nhóm, xong quay qua Hân nháy mắt ra vẻ ám hiệu, rồi đưa ống nghe hướng ra phía đó, như thể cuộc gọi là cho Hân vậy.

“Không. Là của anh.”, tôi đành lên tiếng trước khi Hân miễn cưỡng bỏ cốc sô-đa xuống. Nó gọi đến đây ư. “Là Franky hả?”.

“… Thật đó?”, P. ra chừng ngạc nhiên, tuy có hơi xuôi xị và giả vờ tỏ nghi ngờ nhưng vẫn đưa ống nghe cho tôi. Có lẽ đúng là thằng Franky đã bảo nó không biết tên người muốn gặp. Thế cũng phải. Mà sao vẫn xưng cái tên cúng cơm Franky với người khác, chắc chắn còn thể hiện bằng chất giọng bỡn cợt như dầu lanh, hoặc cay buốt và sâu hoắm giống một cái hang băng ở Kỷ Đệ Tam đặc trưng nữa, nó không hề mà cũng chưa bao giờ ‘phải’ lo đến việc rồi người ta sẽ nhận ra mình thì phải. Nghĩ đến đấy, tôi tự dằn lòng đừng có mà cảm thấy sợ hãi thêm chút nào nữa trước khi nói hay nghe thấy bất kỳ điều gì trong chục giây kế tiếp.